Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số:

"Bức tranh dân số" có nhiều khởi sắc

Ngày 24/9, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Thiện Nhân - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 24/9, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Thiện Nhân - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ. Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Phó Thủ tướng nhấn mạnh, vấn đề dân số là vấn đề vô cùng quan trọng, không chỉ có ý nghĩa tác động đến ngày hôm nay mà có ý nghĩa cho sự phát triển của đất nước tới 30-50 năm nữa. Do đó, ngành dân số khi xây dựng chính sách phải có tầm nhìn xa và phải có sự tính toán cho phù hợp.

Tham dự hội nghị còn có Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến; Thứ trưởng Bộ GDĐT Trần Quang Quý; đại diện TƯ Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; TƯ Hội Nông dân Việt Nam; TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; đại diện các Bộ, ban ngành, đoàn thể TƯ; Lãnh đạo các Vụ, Cục, Tổng cục và các đơn vị thuộc Bộ Y tế; Lãnh đạo các Viện và Trung tâm nghiên cứu có liên quan; Lãnh đạo UBND, Ban tuyên giáo tỉnh/thành ủy, Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ của 63 tỉnh, thành phố và gần 600 đại biểu, đại diện các Ủy ban của Quốc hội, các Ban của Đảng, Văn phòng Chính phủ.

“Bức tranh dân số” thay đổi tích cực

Trải qua 50 năm thực hiện công tác DS-KHHGĐ, dân số Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc sinh đẻ. Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến khẳng định, công tác DS-KHHGĐ luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XH, là yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Số con trung bình một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 6,3 con (1960) xuống còn 2,05 con (2012). Tuổi thọ bình quân tăng từ 40 tuổi (1960) lên 73 tuổi (2012); tỷ lệ tăng dân số giảm từ 3,5% (1960) xuống chỉ còn 1,06% (2012)... Những thành tựu này góp phần to lớn vào sự phát triển KT-XH của đất nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, tăng thu nhập bình quân đầu người, cải thiện đời sống nhân dân, giảm tình trạng đói nghèo, tăng cường bình đẳng giới. Để đạt được kết quả này, Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, từng bước được điều chỉnh theo hướng bao quát, toàn diện hơn, chú trọng nâng cao chất lượng dân số thích ứng với những biến đổi về cơ cấu dân số. Pháp lệnh Dân số (2003) và Pháp lệnh sửa đổi điều 10 PLDS (2008) là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực Dân số, đã góp phần thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách dân số phù hợp với xu thế cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Thẳng thắn nhìn nhận những thách thức trong công tác DS-KHHGD, Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến chỉ rõ, hiện nay, quy mô dân số nước ta đã gần 89 triệu người, là quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới, và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, tốc độ tăng dân số tuy đã giảm nhiều song do quy mô dân số khá lớn, mỗi năm nước ta tăng 1 triệu người, mật độ dân số 267 người/km2, là nước nằm trong nhóm các nước có mật độ cao nhất thế giới. Chất lượng dân số thấp, tốc độ già hóa dân số nhanh, mất cân bằng giới tính khi sinh là vấn đề nóng và tiếp tục tăng cao nếu không được xử lý kiên quyết ngay bây giờ sẽ để lại những hệ lụy rất nặng nề về mặt xã hội, kinh tế thậm chí an ninh chính trị. Đầu tư đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu người gia nhập lực lượng lao động hàng năm cũng là vấn đề lớn đòi hỏi sự phấn đấu, nỗ lực của các ngành, các cấp và xã hội.
"Bức tranh dân số" có nhiều khởi sắc 1
Quang cảnh hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số.
TS. Dương Quốc Trọng, Tổng Cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ cũng cho hay, sau 10 năm thực hiện PLDS, “bức tranh dân số” nước ta hiện nay đã có nhiều thay đổi căn bản so với trước đây. Mức sinh đã giảm rõ rệt nhưng còn rất khác biệt giữa các vùng miền, tỉnh thành; vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn tiếp tục gia tăng; làm thế nào để tận dụng cơ hội cơ cấu “dân số vàng"?; chăm sóc và phát huy người cao tuổi khi Việt Nam đang “già hóa dân số" rất nhanh; phân bố, quản lý dân cư; di cư và đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh như một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển; nâng cao chất lượng dân số, hôn nhân đồng tính, mang thai hộ... là những vấn đề rất mới, cần được điều chỉnh.

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Luật Dân số

Để giải quyết các khó khăn trong công tác DS-KHHGĐ, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến đề nghị ngành dân số tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác DS-KHHGĐ trên tất cả các mặt quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số. Tập trung và ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, đẩy mạnh công tác tuyền thông chuyển đổi hành vi kết hợp với cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS-KHHGĐ thuận lợi cho người dân, nhằm thu hẹp khoảng cách mức sinh giữa các vùng trong cả nước, nhằm duy trì mức sinh thay thế trong cả nước. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng dân số, chủ động điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số, kiểm soát mức chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh. Đề xuất những giải pháp kéo dài và phát huy, tận dụng lợi thế cơ cấu dân số vàng hiện nay. Phối hợp với các cơ quan liên quan đẩy nhanh tiến độ xây dựng Luật Dân số và các văn bản hướng dẫn trình các cấp có thẩm quyền ban hành nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về DS-KHHGĐ đáp ứng yêu cầu quản lý và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn…

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, vấn đề dân số vô cùng quan trọng, không chỉ có ý nghĩa tác động đến ngày hôm nay mà có ý nghĩa cho sự phát triển của đất nước tới 30-50 năm nữa. Năm 1961, Việt Nam có quyết định số 216 của Hội đồng Bộ trưởng về việc "sinh đẻ có hướng dẫn". Trải qua 52 năm, với nhiều giai đoạn, nhân dân cả nước đã coi việc sinh đẻ là vấn đề của quốc gia, là sự tồn vong của đất nước chứ không chỉ là câu chuyện của một gia đình riêng lẻ. Việt Nam đã duy trì được tỷ suất sinh, đã đạt và giữ vững mức sinh thay thế trong nhiều năm. Từ năm 1960, số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 6,3–6,4 con, đến năm 2012, con số này giảm xuống, chỉ còn 2,05 con. Duy trì mức sinh hợp lý, giúp Việt Nam có được cơ cấu dân số “vàng" và sẽ kéo dài đến năm 2049. Mặc dù chưa giàu về kinh tế, nhưng tuổi thọ người Việt Nam đã cao hơn. Nếu năm 1961, tuổi thọ trung bình là 40 tuổi thì năm 2012, con số này tăng lên 73 tuổi… Tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi ngày càng giảm, từ 51%o xuống còn 15%o. Tỷ suất chết mẹ cũng giảm mạnh…

Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ, dù tổng tỷ suất sinh của Việt Nam đã đạt mức sinh 2 con nhưng xét từng địa phương, vùng miền thì có nơi rất cao, nhưng có nơi lại rất thấp như TP.HCM và các tỉnh lân cận vùng Đông Nam Bộ. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh còn cao, cả nước hiện nay ở mức 112,3 bé trai/100 bé gái và xu hướng còn tăng lên trong thời gian tới; Tỷ suất chết trẻ dưới 5 tuổi không đồng đều, vùng miền núi con số này rất cao; Vấn đề chăm sóc người cao tuổi không đồng đều, hầu như chỉ mới tập trung tại các thành phố lớn, nơi có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội… Do đó, Phó Thủ tướng đề nghị ngành dân số khi xây dựng chính sách phải có tầm nhìn xa và phải có sự tính toán cho phù hợp. "Chúng ta đang xây dựng Luật Dân số, khi xây dựng dự luật quan trọng này tiếp thu các bài học trong 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số, hơn 50 năm thực hiện chính sách dân số của Việt Nam, các bài học quốc tế, cả bài học thành công cũng như chưa thành công… để có được một bộ luật tốt nhất, phù hợp, thúc đẩy công tác dân số nói riêng, sự phát triển của đất nước nói chung”- Phó Thủ tướng chỉ đạo.

Tại hội nghị, 95 tập thể và 159 cá nhân thuộc các bộ, ngành, đoàn thể, Tổng cục DS-KHHGĐ và các Chi cục DS-KHHGĐ đã được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế vì những thành tích thực hiện PLDS giai đoạn 2003 – 2013.

Khuyến nghị xây dựng Luật Dân số ở Việt Nam
 
Ông Arthur Erken - Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA): Luật Dân số nên dựa trên các nguyên tắc của Chương trình Hành động ICPD năm 1994 mà Việt Nam đã tham gia ký kết; đảm bảo rằng tất cả các nhóm dân số, bất kể tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, thu nhập hay vị trí địa lý hoặc dân tộc đều được tiếp cận bình đẳng tới các dịch vụ và thông tin về sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản, bao gồm cả KHHGĐ. Đặc biệt, đó là Luật Dân số cần tạo nền tảng pháp lý cho việc thể chế hoá công tác lồng ghép biến số dân số vào việc xây dựng chính sách và lập kế hoạch của tất cả các ngành để đảm bảo rằng các nhu cầu của các nhóm dân số khác nhau, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương phải được giải quyết ở tất cả các lĩnh vực phát triển…
 
GS.TS Nguyễn Đình Cử - nguyên Viện trưởng Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân: Pháp lệnh Dân số điều chỉnh quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số, các biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số thì Luật Dân số không nên tiếp tục phương hướng này. Bởi lẽ, 10 năm qua, nhiều Luật mới liên quan đến dân số đã được ban hành như: Về phân bố dân số có Luật cư trú (2006); Cơ cấu dân số có Luật Người cao tuổi, Luật Bình đẳng giới… Vì vậy, cần xác định nội dung hợp lý cho Luật Dân số. Về nội dung điều chỉnh của Luật nên dựa theo từng giai đoạn của quá trình sinh sản để cần có quy định điều chỉnh cụ thể, thích hợp. Đó là các giai đoạn: Chuẩn bị mang thai; Giai đoạn mang thai; Giai đoạn không mang thai; Giai đoạn sinh con và giai đoạn sau sinh.

Bà Trịnh Thị Hằng - Ủy viên thường vụ BCH Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trưởng ban Nữ công: 5 kiến nghị cụ thể gồm: Các hình thức vận động, truyền thông, giáo dục về công tác DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản cần phải được tiếp tục thực hiện và có kế hoạch, kinh phí lâu dài, qui định rõ trong Luật để làm cơ sở thực hiện. Đưa Chương trình di dân Quốc gia gắn với điều khoản, nội dung qui định trong Luật Dân số. Cần có cơ chế, chính sách quy định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp đối với công tác DS-KHHGĐ/chăm sóc SKSS, quy định dành một phần kinh phí cụ thể hỗ trợ cho cán bộ, đoàn viên và người lao động được chăm sóc SKSS hàng năm. Tiếp tục chỉ đạo phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến địa phương để tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đoàn viên và người lao động thực hiện kế hoạch mục tiêu, chương trình đề ra hàng năm. Sớm nghiên cứu ban hành Luật Dân số làm cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện công tác dân số trong nhân dân nói chung và công nhân viên chức lao động nói riêng.
 
Dương Hải
Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết "Bức tranh dân số" có nhiều khởi sắc

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT