“Bốn thương răng nhánh hạt huyền...”

Nhuộm răng là truyền thống đẹp của người Việt xưa, nhưng đến nay, chuẩn mực cái đẹp đã thay đổi nên còn ít người giữ được tục nhuộm răng. Ðất Hòa Bình là cái nôi của người Việt xưa, vì thế, người Mường cũng có tục nhuộm răng đen độc đáo và khác lạ so với người Kinh, người Thái

Nhuộm răng là truyền thống đẹp của người Việt xưa, nhưng đến nay, chuẩn mực cái đẹp đã thay đổi nên còn ít người giữ được tục nhuộm răng. Ðất Hòa Bình là cái nôi của người Việt xưa, vì thế, người Mường cũng có tục nhuộm răng đen độc đáo và khác lạ so với người Kinh, người Thái. Nét đẹp văn hóa này đến nay vẫn được lưu giữ ở rất nhiều vùng, nhiều thôn, bản trên đất Hòa Bình.

Cầu kỳ kỹ nghệ nhuộm đen răng

“Bốn thương răng nhánh hạt huyền...” 1

Răng đen là nét đáng yêu được xếp vào hàng thứ tư trong cái duyên của người con gái. Trong bài ca dao Việt Nam Mười thương có đoạn: “Một thương tóc bỏ đuôi gà/Hai thương ăn nói mặn mà có duyên/Ba thương má lúm đồng tiền/Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua”. Tục nhuộm răng đen đã tồn tại từ rất lâu, trải dài theo 4 ngàn năm lịch sử của người Việt. Trong bài hịch của vua Quang Trung khi kéo quân ra Bắc đánh giặc nhà Thanh vào năm 1789 có câu liên quan đến tục nhuộm răng vì đây là một tập tục quan trọng trong văn hóa người Việt: “Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn...”. Để đi tìm nét đẹp cổ xưa còn sót lại ấy, chúng tôi đặt chân đến bản Xóm Mới (Đồng Chum, Đà Bắc, Hòa Bình) - nơi sinh sống của người dân tộc Mường, vào một ngày trời đông lạnh giá. Gió rét miền núi cộng thêm sương giăng kéo nền nhiệt độ xuống chỉ còn khoảng 10 độ C và ban đêm còn thấp hơn nữa. Chẳng khó khăn để bắt gặp những phụ nữ nhuộm răng đen ở nơi đây vì hầu hết ai cũng nhuộm, từ những cô thiếu nữ tuổi đôi mươi cho đến những phụ nữ đã già móm mém, hàm răng không còn đủ. Đâu cũng thấy xuất hiện những “nụ cười đen” rạng rỡ. Tủm tỉm cười khi được hỏi về cách nhuộm răng, người đàn bà sở hữu bộ răng đen đã 50 năm có tên Sa Thị Hẫm bảo rằng, quy trình nhuộm răng của người Mường cũng có nhiều nét tương đồng với người Kinh nhưng chất liệu để nhuộm răng khác hẳn. Quy trình nhuộm răng của người Kinh xem ra cũng khá cầu kỳ. Khởi đầu, miệng và răng phải được làm vệ sinh thật sạch cho đến khi lấy tay sờ vào thân răng phải trơn láng mới được. Trong 3 ngày đầu phải đánh răng, xỉa răng bằng vỏ cau khô với than bột trộn với muối bột. Một ngày trước khi nhuộm phải nhai ngậm chanh hoặc hạnh, súc miệng bằng rượu trắng pha nước chanh để lớp men răng "mềm" đi, axít của chanh sẽ bào mòn tạo thành những vệt lõm sần sùi trên men răng. Thời gian này là thời gian đau đớn nhất cho người nhuộm vì răng, môi, lưỡi, lợi và niêm mạc trong vòm họng sưng tấy, răng lung lay như muốn rụng. Thuốc nhuộm răng bằng nhựa cánh kiến được điều chế trước đó 7–10 ngày theo đúng công thức với tỷ lệ bột nhựa cánh kiến và nước cốt chanh tùy theo mỗi người, chất sền sệt đó được trét lên một mảnh vải thô trắng hay lụa. Người ta trét lên lá dừa, cau hay lá ngái sau đó mới áp lên hai hàm răng. Việc áp thuốc nhuộm răng được thực hiện vào sau buổi ăn chiều, đến giữa đêm sẽ được thay bằng một miếng áp mới. Đến sáng hôm sau sẽ gỡ ra lớp nhựa sơn mới phủ lên đêm trước. Sau đó phải súc miệng bằng nước mắm, có nơi dùng nước dưa chua, để thải hết chất thuốc còn sót lại. Người nhuộm răng phải ngậm miệng suốt đêm, tránh để miếng thuốc nhuộm bong ra, phải làm như vậy mỗi đêm 2 lần trong 7 đêm. Khoảng thời gian đó, người nhuộm răng chỉ được nuốt chửng thức ăn chứ không được nhai. Khi thấy răng có màu đỏ già (màu của cánh kiến) thì việc nhuộm răng sẽ bước qua giai đoạn 2 là giai đoạn nhuộm đen răng bằng cách phết dung dịch bôi đen lên răng. Thuốc bôi đen là hỗn hợp phèn đen trộn với nhựa cánh kiến, dung dịch này được phết trong 2 ngày. Phải súc miệng bằng một thứ thuốc gọi là thuốc xỉa nước. Giai đoạn cuối cùng là cố định bằng nhựa của gáo dừa được đốt hay nấu chảy, chất nhựa này tạo thành một lớp men trên thân răng gọi là "giết răng". Khi hoàn tất giai đoạn này, người nhuộm răng sẽ có một hàm răng đen bóng như hạt na. Để nhuộm răng được đen và đều, người Mường dùng quả sống (một loại quả rừng lá xanh to bằng bàn tay, quả có vị chua) thái ra phơi khô, nấu lên ngậm nước để làm sạch, tê và mềm răng. Nước ngậm của quả sống có vị chua nên phải ngậm liên tục, hết vị chua lại nhổ đi, ngậm tiếp nước mới, cứ ngậm như vậy từ 4 - 5 tiếng để cho lớp men ngoài răng mềm, ngấm màu đen của thuốc nhuộm dễ hơn. Cầu kỳ như vậy nhưng có lẽ khó khăn nhất trong quá trình nhuộm răng phải kể đến thời gian dán quả mè lên răng. Quả mè được dùng để nhuộm răng phải là mè non để có độ chát và “dính răng”. Mè non được đồ lên, đổ ra tách lấy vỏ ngoài và giã nhỏ, phần mè vừa giã được đem lên dán vào các dụng cụ lao động bằng sắt đã được rửa sạch như cuốc, xẻng, dao với mục đích tạo phản ứng, độ đen cho thuốc nhuộm.

Các mảng mè sau khi dán lên cuốc xẻng đã khô lại được mang ngâm nước cho mềm rồi gói vào lá chuối tiêu, mỗi lá bằng ngón tay và được đem nướng lên. Theo lời kể của các mế, mè phải được gói vào lá chuối tiêu, vì lá chuối tiêu có vị khé, chát, hợp với mè. Quy trình “chế biến” mè không chỉ dừng lại ở đó mà sau khi được bọc lá chuối nướng xong, mè được bỏ ra giã lại một lần nữa rồi mới chính thức dính lên răng.

Nét đẹp xưa ai còn gìn giữ?

Tay cuộn cuộn lá trầu, mế Diệu ở xóm Chiềng 2, xã Vĩnh Đồng (Kim Bôi) chia sẻ: Ngày xưa ai cũng nhuộm răng, tuổi bắt đầu nhuộm răng là từ thiếu nữ tầm 16-18, cứ tối đến là cả trai gái, cả già trẻ, từng tốp một 5 - 6 người quây quần bên bếp lửa cùng nhau nhuộm răng, nhiều đôi yêu nhau còn nhuộm răng cho nhau. Nhuộm răng xưa như một nét đẹp, chuẩn mực, răng càng đen càng đẹp, đen nhánh, đều màu càng khéo, nhuộm răng vất vả lắm nhưng ai cũng hồ hởi... Nhuộm răng không chỉ vất vả lúc ngậm quả sống khi phải “thưởng thức” đủ vị chua, vị chát và tê buốt, khó chịu nhức nhối mà khó khăn nhất vẫn là khi ngậm mè. Theo kinh nghiệm, người Mường khi nhuộm răng chỉ ngậm mè vào buổi tối - trời thật tối hẳn và ngậm 5 - 6 miếng mè vừa bằng ngón tay, thức suốt đêm khuya đến tận sáng mai khi hửng trời và bắt đầu một ngày lao động mới thì mọi người bỏ mè ra. Quy trình dán mè như vậy được tiến hành trong 3 đêm liên tục để răng nhuộm được đen và bền màu. Các mế kể rằng, để cho răng đẹp phải thường xuyên ăn trầu để giữ màu; nếu muốn răng đen nhánh, dùng nhựa ở thân cây sim phơi khô bôi vào răng. Nhuộm răng không chỉ là một truyền thống văn hóa mà còn giúp cho răng chắc, khỏe và thể hiện cái duyên của người Mường, đặc biệt là phụ nữ Mường. Phụ nữ Mường xưa mặc trang phục dân tộc, đầu quấn khăn trắng và ánh cười đen nhánh khỏe mạnh được coi như chuẩn mực của cái đẹp, của sự khỏe mạnh, đảm đang và khéo léo.

“Bốn thương răng nhánh hạt huyền...” 2
“Bốn thương răng nhánh hạt huyền...” 3
 Tục nhuộm răng của người Việt đang ngày mai một.

Về đất Hòa Bình ngày nay, không chỉ riêng Mường Động mà đa số các địa danh cư trú của người Mường như: Mường Vang, Mường Thàng, Mường Bi, hay đến cả ở TP. Hòa Bình như Dân Chủ, xóm Gai... vẫn còn nhiều người Mường nhuộm răng, họ là phụ nữ và đều ở tuổi bác, tuổi bà hay cụ, kị. Nói đến nhuộm răng ai cũng tự hào, họ chính là nhân chứng sống cho một thời kỳ, là những người gìn giữ cái đẹp, gìn giữ văn hóa cho đời sau.

Nét đẹp văn hóa là vậy nhưng nhiều người già ở Đồng Chum nói riêng và nhiều bản làng khác của người Mường trên Hòa Bình cũng không khỏi băn khoăn về sự phôi pha của tục nhuộm răng vì những chuẩn mực về cái đẹp đã thay đổi nhiều, những lứa con gái Mường ở bản tiếp xúc với xã hội bên ngoài nên đã không còn thiết tha với màu răng đen.   

 Văn Hậu - Dạ Miêu

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết “Bốn thương răng nhánh hạt huyền...”

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com