Biến chứng do hẹp động mạch thận

Suckhoedoisong.vn - Bệnh hẹp động mạch thận (renal arterial stenosis) có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra như: viêm động mạch, loạn sản xơ, xơ vữa động mạch, trong đó xơ vữa động mạch là nguyên nhân gây hẹp động mạch thận nhiều nhất. Điều đáng báo động là số người mắc bệnh này tăng

Bệnh hẹp động mạch thận (renal arterial stenosis) có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra như: viêm động mạch, loạn sản xơ, xơ vữa động mạch, trong đó xơ vữa động mạch là nguyên nhân gây hẹp động mạch thận nhiều nhất. Điều đáng báo động là số người mắc bệnh này tăng rất nhanh.

Vì sao bệnh hẹp động mạch thận lại tăng nhanh?

Nhiều nghiên cứu cho biết: hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân mắc hẹp động mạch thận gia tăng nhanh chóng do sự tăng nhanh của các bệnh không nhiễm khuẩn như tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu... Nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho biết: năm 2006, mỗi năm có khoảng 1 triệu bệnh nhân hẹp động mạch thận mới, nhưng đến nay, tỷ lệ này không những không giảm mà còn gia tăng do sự tiến bộ của các phương pháp chẩn đoán sàng lọc, phát hiện ra hẹp động mạch thận ở giai đoạn chưa có triệu chứng. Trên thế giới, các nghiên cứu ở châu Âu và các nước phát triển ở châu Á cũng có kết quả tương tự như ở Hoa Kỳ.

Hẹp động mạch thận phải.

Hẹp động mạch thận phải.

Nghiên cứu của Sawicki và cộng sự cho biết: có 4,3% hẹp động mạch thận trên 50% (đây là mức hẹp động mạch cần can thiệp); Đối với 2 nhóm bệnh nhân bị bệnh tiểu đường: nhóm không tăng huyết áp thì tỷ lệ bị hẹp động mạch thận là 8,3% và nhóm tiểu đường có tăng huyết áp thì tỷ lệ này là 10,1%. Theo các nghiên cứu khác, hẹp động mạch thận mức độ trên 50% chiếm tỷ lệ 15-19% trường hợp bệnh hẹp động mạch vành và 40% bệnh nhân hẹp động mạch ngoại biên; Khoảng 25% bệnh nhân hẹp động mạch thận ở cả hai bên. Nghiên cứu của Coen và cộng sự, khảo sát siêu âm Doppler mạch sàng lọc cho nhóm người cao tuổi đã phát hiện ra rằng: tỷ lệ người mắc bệnh hẹp động mạch thận là 11% độ tuổi 50-59; tỷ lệ này là 18% ở độ tuổi 60-69 và 23% ở độ tuổi trên 70.

Ngày nay, bệnh hẹp động mạch thận đã trở thành loại bệnh tăng nhanh, đặc biệt tăng cao ở một số nhóm người: hút thuốc lá, béo phì, mắc các bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu và xơ vữa động mạch.

Phát hiện hẹp động mạch thận

Một thời gian sau khi mắc các bệnh là nguyên nhân gây hẹp động mạch thận nói trên hoặc sau khi bị chấn thương, nếu bị hẹp động mạch thận, bệnh nhân sẽ có các dấu hiệu như sau: tăng huyết áp, do hẹp động mạch thận làm giảm lượng máu tới nhu mô thận, kích thích hệ thống renin - angiotensin hoạt động làm tăng huyết áp. Đặc điểm chính của tăng huyết áp do hẹp động mạch thận là huyết áp tăng cao, khó hoặc không kiểm soát được bằng điều trị nội khoa. Bệnh tăng huyết áp do hẹp động mạch thận có một số tính chất: khởi phát ở người chưa đến 30 tuổi; tăng huyết áp nặng, khó kiểm soát sau 55 tuổi; suy giảm chức năng thận khi điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotengin; suy thận không giải thích được nguyên nhân; có triệu chứng của hẹp động mạch vành; và suy tim tiến triển không giải thích được nguyên nhân. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính, siêu âm, chụp mạch máu...đều có thể giúp chẩn đoán hẹp động mạch thận.

Các biến chứng nguy hiểm

Bệnh hẹp động mạch thận nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm là: tăng huyết áp ác tính, tăng huyết áp cao từng cơn, đột ngột, không kiểm soát được bằng các phương pháp điều trị thông thường dẫn đến tai biến mạch não. Giảm tưới máu nhu mô thận làm thiếu máu thận mạn tính dẫn đến teo thận. Một nghiên cứu cho biết: có khoảng 14 - 49% số bệnh nhân có biểu hiện teo thận tại thời điểm chẩn đoán được bệnh hẹp động mạch thận. Suy thận tiến triển: do thiếu máu thận mạn tính dẫn đến teo các phức hợp cầu thận. Nếu bệnh nhân tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối, phải lọc máu chu kỳ thì tỷ lệ tử vong lên tới 30% và thời gian sống trung bình của bệnh nhân hẹp động mạch thận là 27 tháng.

Điều trị ra sao?

Điều trị bệnh hẹp động mạch thận cần phối hợp nhiều biện pháp. Phương pháp nội khoa: là phương pháp điều trị cơ bản, chủ yếu để kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh như xơ vữa động mạch, rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá, chống viêm... Phẫu thuật bắc cầu là phương pháp sử dụng mạch máu nhân tạo hoặc mạch máu tự thân của bệnh nhân nối qua vị trí động mạch thận bị hẹp. Can thiệp nội mạch là phương pháp hiện đại được dùng để điều trị phổ biến nhất trên thế giới do nó an toàn và hiệu quả. Ở phương pháp này, chỗ hẹp động mạch thận sẽ được nong bằng bóng hoặc đặt giá đỡ lòng mạch (stent) để khắc phục hẹp động mạch.

Lời khuyên của thầy thuốc

Hẹp động mạch thận bẩm sinh thì không phòng tránh được, nhưng số người mắc bệnh loại này ít. Hẹp động mạch thận mắc phải có thể phòng tránh được để giảm số bệnh nhân đang tăng nhanh như hiện nay. Biện pháp chủ yếu là khám phát hiện sớm và điều trị tích cực các bệnh là nguyên nhân gây hẹp động mạch thận; Nâng cao ý thức phòng tránh tai nạn giao thông, tai nạn lao động và sinh hoạt; Bỏ hút thuốc lá, thuốc lào; Ăn uống điều độ, hạn chế ăn thức ăn nhanh để tránh thừa cân béo phì - đây là nguyên nhân gây xơ vữa động mạch và dẫn tới hẹp.

ThS. Nguyễn Mạnh Hà

 

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Biến chứng do hẹp động mạch thận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT