Bàn tròn năm mới: Kinh tế y tế

Suckhoedoisong.vn - Lâu nay, ngành Y tế vẫn rất chú trọng về y đức, nhất là ở lĩnh vực điều trị. Nhưng bên cạnh y đức, yếu tố không kém phần quan trọng là kinh tế y tế. Bởi vì nếu vận hành đúng kinh tế trong y tế sẽ giải quyết được nhiều vấn đề, cả về vấn đề y đức.

Lâu nay, ngành Y tế vẫn rất chú trọng về y đức, nhất là ở lĩnh vực điều trị. Nhưng bên cạnh y đức, yếu tố không kém phần quan trọng là kinh tế y tế. Bởi vì nếu vận hành đúng kinh tế trong y tế sẽ giải quyết được nhiều vấn đề, cả về vấn đề y đức.

Nhân dịp năm mới 2014, Xuân Giáp Ngọ, chúng tôi có cuộc trò chuyện “bàn tròn” với 3 vị khách mời về vấn đề này.

Khách mời thứ nhất là TTND. ThS. BS. Từ Thanh Chương, nguyên Giám đốc Sở Y tế Đồng Nai, nay là Giám đốc BV. ITO Sài Gòn Đồng Nai. Ông Chương đồng thời từng là một vị giám đốc bệnh viện (BV) công.

Vị thứ hai là PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam, giảng viên Đại học Y Dược TP.HCM, người có nhiều năm làm phòng mạch tư, cố vấn cho một số BV, từng có những bài báo đề cập đến vấn đề kinh tế y tế. Cuối cùng là ThS. kinh tế Đinh Thị Liễu, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán Sở Y tế TP.HCM, hiện đang giảng dạy chuyên đề kinh tế y tế cho cán bộ y tế TP.HCM. Thảo luận có tính bàn tròn này chỉ khu trú ở lĩnh vực điều trị, không đề cập đến lĩnh vực dược, y tế dự phòng…

PV: Trước hết, theo ông/bà, kinh tế trong y tế nên được hiểu như thế nào và nó có vai trò gì?

TTND.ThS. Từ Thanh Chương: Mỗi quốc gia trên thế giới dù thuộc nhóm giàu nhất cũng chỉ có nguồn lực nhất định cho chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân. Cho nên, ước muốn và nhu cầu này không thể thỏa mãn phải có giải pháp thích hợp để khai thác, phân bổ nguồn lực cho những dịch vụ y tế cơ bản, thiết yếu và nâng cao với mục tiêu hướng đến người bệnh một cách công bằng, hiệu quả, đó là kinh tế trong y tế.

Trong một thời gian kéo dài, chúng ta quan niệm y tế là lĩnh vực “phi sản xuất vật chất”. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường quan điểm và nhận thức về ngành Y tế cũng thay đổi: một ngành thuộc hệ thống kinh tế quốc dân, thuộc nhóm ngành dịch vụ, đầu tư cho Y tế là đầu tư cho phát triển.

Kinh tế trong y tế có vai trò to lớn:

- Chuyển từ mô hình quản lý hệ thống y tế từ thuần túy chuyên môn sang mô hình quản lý đơn vị kinh tế dịch vụ, tổ chức hệ thống kinh tế kỹ thuật hợp lý. Chuyển trọng tâm từ người cung ứng dịch vụ (nhân viên y tế) sang trọng tâm là người sử dụng dịch vụ BN. Quản lý chặt chẽ các yếu tố đầu vào, chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ.

- Đa dạng hóa các hình thức dịch vụ và đồng bộ hóa dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của BN. Chuyển từ quan niệm ngồi chờ BN sang chủ động tìm đến với BN. Phát huy tính tự chịu trách nhiệm của lãnh đạo, chủ động cân đối, đảm bảo các nguồn lực cho hoạt động từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ.

- Trong quản lý kinh tế y tế, việc cung ứng dịch vụ bên cạnh hệ thống y tế nhà nước, hệ thống y tế ngoài công lập, các bệnh viện liên doanh, đầu tư nước ngoài tạo nên sự cạnh tranh.

ThS. Đinh Thị Liễu: Có thể hiểu một cách đơn giản: kinh tế y tế đó là một dịch vụ y tế được cung cấp có hiệu quả với mức giá phù hợp. Như vậy, khi hoạt động CSSK được xem là một dịch vụ thì đồng nghĩa mức thu (giá cả) phải tương đồng với chi phí đã bỏ ra. Hiện nay các cơ sở y tế (CSYT) rất khó trong việc thực hiện bài toán kinh tế y tế, vì mức thu chưa phản ảnh đủ chi phí, nhất là chi phí khấu hao. Lộ trình đến 2018, giá thu dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) (viện phí) của Bộ Y tế sẽ tính đủ các yếu tố chi phí sẽ giúp các CSYT thực hiện bài toán này. Một khi kinh tế y tế được thực hiện tại cơ sở y tế, và BHYT thì dịch vụ CSSK sẽ được cải thiện về chất lượng và giá cả. Cụ thể:

Cơ sở y tế phải thực hiện các chỉ định trên cơ sở phác đồ điều trị, lúc này chi phí y tế sẽ giảm (theo xu hướng tích cực) nhất là chi phí xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thuốc, tiền giường bệnh.

BHYT phải cải thiện quỹ (tăng số người tham gia), tính lại mức giá thanh toán cho CSYT (giá quá thấp, không đủ bù đắp chi phí) và thay đổi cơ chế thanh toán. Cơ chế chi trả theo phí dịch vụ của BHYT đã tạo điều kiện các CSYT cung cấp dịch vụ quá mức cần thiết, còn cơ chế khoán định suất thì kiểm soát được quỹ nhưng suất khoán còn cào bằng giữa các tuyến y tế cơ sở và ít nhiều hạn chế người bệnh tiếp cận các kỹ thuật cao, đắt tiền.

Người bệnh chi trả viện phí công khai, minh bạch và hưởng dịch vụ y tế chất lượng, hiệu quả.

PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam: Đã từ lâu, ở nước ta không ai dám nghĩ hoặc nhắc đến từ: kinh tế y tế. Vì họ cho rằng Y tế là một ngành phục vụ phi lợi nhuận, không được ai có quyền kinh doanh trên sức khỏe của người khác và nhà nước sẽ bao cấp hết.

Thời chiến tranh và sau này nhờ vào nguồn viện trợ khá dồi dào của các nước Xã hội chủ nghĩa và sức dân nên chúng ta tạm quên đi từ kinh tế trong y tế và ngành Y tế là ngành phục vụ đúng nghĩa.

Rồi sau đó những năm tháng khó khăn, khi mọi cái không còn và cả những món tiền viện trợ hậu hĩnh cũng không có nốt, đất nước rơi vào khủng hoảng. Cả nền Y tế cũng vậy, đã có thời bác sĩ được mệnh danh là bác sĩ xuyên tâm liên, bác sĩ bát cháo hành…

Nhưng cả thế giới họ không đi như vậy. Với ngành Y tế, thuật ngữ: kinh tế y tế đã có từ lâu. Phải hiểu cho đúng là không phải họ kinh doanh trên sức khỏe con người mà là giúp xã hội điều tiết nguồn lực y tế từ những người giàu sang người nghèo bằng các dịch vụ phục vụ người giàu, lấy tiền đóng thuế và san sẻ phúc lợi, trong đó có cả phần y tế cho người nghèo. Lấy của đám đông không bị bệnh cho một số ít người không may bị bệnh qua chính sách BHXH, BHYT

PV: Trong kinh tế y tế, không thể không nhắc đến y tế tư nhân (các BV và phòng khám). Cần đánh giá vai trò của y tế tư nhân hiện nay như thế nào?

ThS. Đinh Thị Liễu: Y tế tư nhân ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có sự lựa chọn phù hợp với khả năng trong việc KCB, giúp chia sẻ gánh nặng với y tế nhà nước. Họ có khả năng và đáp ứng nhanh trong việc trang bị các kỹ thuật cao, hiện đại.

Trong thời gian tới, cần mở rộng mạng lưới KCB BHYT trong y tế tư nhân nhằm thực hiện lộ trình BHYT toàn dân. Khuyến khích y tế tư nhân tiếp cận với nhóm đối tượng nghèo, cận nghèo.

Cần có sự đánh giá, xếp hạng cho các cơ sở y tế tư nhân để tạo điều kiện cho họ phát triển công bằng trong hệ thống y tế.

TTND.ThS. Từ Thanh Chương: Trong điều kiện quá tải BV công lập như hiện nay, hệ thống y tế tư nhân đưa dịch vụ y tế đến gần với BN, đa dạng hóa các dịch vụ CSSK góp phần làm giảm tình trạng quá tải khá gay gắt của hệ thống y tế công lập.

Y tế ngoài công lập có tính năng động, uyển chuyển, tự cân đối, tự điều chỉnh, luôn tạo ra cơ hội cho sáng tạo, luôn tìm cách cải tiến lề lối làm việc, rút kinh nghiệm thành công hay thất bại để không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo sự cạnh tranh là một động lực quan trọng trong nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo cho BN giữ vị trí trung tâm.

Y tế ngoài công lập (các BV tư, BV liên doanh, BV đầu tư nước ngoài) luôn hướng đến chất lượng dịch vụ và hiệu quả từ đó kỹ thuật, công nghệ mới được áp dụng và phát triển thỏa mãn các yêu cầu của người sử dụng dịch vụ và tạo cơ chế tuyển chọn, sử dụng và đào thải cả cán bộ chuyên môn và người quản lý, đây là mô hình quản lý tiên tiến.

PGS. TS. Nguyễn Hoài Nam: Ở các nước phát triển, người ta không có quan niệm y tế tư nhân hay y tế nhà nước mà là y tế có lợi nhuận và y tế không lợi nhuận. Các cơ sở y tế không lợi nhuận đều hoạt động với ngân sách của chính phủ, của các tổ chức từ thiện và nếu có lợi nhuận, họ lấy phần lợi nhuận này tăng cường trang thiết bị, đóng thuế và các dịch vụ từ thiện khác.

Theo quy luật phát triển của xã hội hiện nay thì dần dần nền Y tế tư nhân, tức có cả phần lợi nhuận và phi lợi nhuận, sẽ chiếm ưu thế vì nó năng động, chất lượng dịch vụ và đầu tư kỹ thuật tốt hơn.

PV: Hiện nay ngành Y tế ở khối điều trị đang tồn tại hai khái niệm: y tế phục vụ và y tế dịch vụ. Đây là điều đang có sự nhập nhằng trong lĩnh vực y tế. Điều đó sẽ gây khó khăn gì cho ngành Y tế? Giải pháp nào giúp giải quyết khó khăn này?

PGS. TS. Nguyễn Hoài Nam: Sự nhập nhằng trong y tế dịch vụ và y tế phục vụ như ở nước ta hiện nay làm phức tạp thêm khả năng phát triển của nền y tế. Vì thực tế đã chứng minh, mọi cái phải rạch ròi, minh bạch thì mới phát triển được. Chính sách xã hội hóa Y tế bị hiểu và làm sai vì lợi ích nhóm như hiện nay. Tức là lấy tài sản công, nhân lực tại BV công, thương hiệu lâu đời của các BV công, thêm vào ít máy móc và lợi nhuận chia nhau, thậm chí còn trốn thuế… như hiện nay chính là một trong những nguyên nhân khá quan trọng đang khiến các CSYT tư nhân vì không thể cạnh tranh nổi đã làm trì trệ sự phát triển của ngành Y tế Việt Nam

ThS. Đinh Thị Liễu: Xã hội hóa y tế là một chủ trương đúng vì CSSK luôn là một nhu cầu cần thiết, cấp bách, và nguồn lực (con người, trang thiết bị, kỹ thuật) sử dụng cho y tế đòi hỏi phải phát triển liên tục. Do đó, huy động nguồn lực xã hội cho y tế là cần thiết. Vấn đề cốt lõi là cơ chế và quản lý như thế nào.

Chỉ xin nêu về giá thu, do cơ chế giá thu của BV công quá thấp, chưa tính đủ các chi phí nhất là chi phí khấu hao, do đó khi có tư nhân tham gia vào thì giá thu sẽ cao hơn (do có chi phí khấu hao), lúc này sẽ dẫn đến tình trạng một dịch vụ kỹ thuật trong cùng một BV có thể có hai giá khác nhau và BN nào sử dụng máy của ngân sách, bệnh nào sử dụng máy xã hội hóa. Nếu không xã hội hóa thì người bệnh phải đi nơi khác lại phải tốn kém chi phí đi lại, thời gian chờ đợi.

Do mức thu không có khấu hao nên các trang thiết bị y tế được đầu tư từ ngân sách khi bị hư thì không có tiền để mua sắm lại. Hy vọng khi giá viện phí được tính đầy đủ thì sự phân biệt y tế công-tư, sự phân biệt BN BHYT, phân biệt giữa KCB trong giờ, ngoài giờ sẽ giảm dần. Dịch vụ y tế sẽ được công khai, minh bạch, trả lại cho các BS thiên chức cao quý của người thầy thuốc.

TTND.ThS. Từ Thanh Chương: Trong những năm trước đây, với cơ chế bao cấp KCB không phải mất tiền. Bước sang thời kỳ đổi mới xã hội có nhiều thành phần kinh tế, có sự phân hóa giàu nghèo, nhu cầu KCB của nhân dân ngày càng tăng và đa dạng: giá thành KCB ngày càng đắt do sử dụng nhiều phương tiện hiện đại, nhiều kỹ thuật mới, nhiều thuốc mới.

Trong cơ chế mới, mối quan hệ giữa cơ sở KCB với BN đã chuyển từ mối quan hệ phục vụ và được phục vụ sang mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ. Cho nên không còn khái niệm y tế phục vụ, có chăng đó là vấn đề thực hiện hai giá viện phí: giá theo quy định và giá xã hội hóa, làm chúng ta nhớ lại những ngày đầu đổi mới trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh là kế hoạch A và kế hoạch B với hình thức hai giá đã gây nhiều rối rắm, phiền phức cho xã hội.

Vấn đề nhập nhằng này đã kéo dài 15 năm, từ nghị định 75/NĐ-CP đến nghị định 10/2002/NĐ-CP cho đến nay, điều đó đã gây nhiều khó khăn trong quản lý.

“Hy vọng khi giá viện phí được tính đầy đủ thì sự phân biệt y tế công-tư, sự phân biệt BN BHYT, phân biệt giữa KCB trong giờ, ngoài giờ sẽ giảm dần. Dịch vụ y tế sẽ được công khai, minh bạch, trả lại cho các BS thiên chức cao quý của người thầy thuốc”.

ThS. Đinh Thị Liễu

Cơ sở hạ tầng, tài sản nhà nước đầu tư, nguồn lực của BV công đưa vào xã hội hóa chưa được hạch toán rõ ràng, rành mạch tạo nên sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa hệ thống BV công lập và ngoài công lập, tạo thế độc quyền dẫn đến những hệ lụy kéo theo về y đức: gây khó khăn cho người bệnh, chuyển BNBHYT sang dịch vụ và tệ nạn phong bì trong ngành Y tế…

Để tránh sự nhập nhằng này cần thực hiện chế độ một giá trong hệ thống y tế bằng cách tính đúng, tính đủ giá viện phí, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong hệ thống BV. Nhà nước chuyển bao cấp cho cơ sở cung ứng dịch vụ (BV công) sang bao cấp cho người sử dụng dịch vụ (mua BHYT cho dân, hỗ trợ quỹ BHYT), có như vậy mới khắc phục sự nhập nhằng.

PV: Xin cảm ơn về sự tham gia “bàn tròn” và những đóng góp ý kiến của quý vị. Mong rằng, đây là những ý kiến có thể tham khảo, giúp sự nghiệp bảo vệ sức khỏe toàn dân ngày càng vững mạnh.

Nguyễn Hưng

 

 

 

 

(báo SKDS cuối tuần)

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Bàn tròn năm mới: Kinh tế y tế

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT