DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0901727659 bandientuskds@gmail.com
Ấn tượng khó quên chuyến thăm biên giới...
09:13 31/08/2013 GMT+7
Xuyên suốt 16 năm hoạt động của Quỹ Thụy Điển Việt Nam phát triển văn hóa (TĐVNPTVH, 1992 - 2008), tôi luôn được cụ Hữu Ngọc mời tham gia các hoạt động dã ngoại.

Xuyên suốt 16 năm hoạt động của Quỹ Thụy Điển Việt Nam phát triển văn hóa (TĐVNPTVH, 1992 - 2008), tôi luôn được cụ Hữu Ngọc mời tham gia các hoạt động dã ngoại.

Chuyến đi gây ấn tượng nhất với tôi có lẽ là chuyến kiểm tra một công trình mà Quỹ đã hỗ trợ trong năm: Dựng nhà bia Thủy môn đình ở Lạng Sơn. Kiểm tra là việc của Quỹ mà cụ Hữu Ngọc làm Chủ tịch, còn chúng tôi, một nhóm bạn của Quỹ với thành phần đa quốc gia chỉ là một cuộc du lịch sinh thái. Cụ Hữu Ngọc vốn được mệnh danh là người bắc nhịp cầu cho các nền văn hóa, thường tranh thủ những chuyến đi này để đưa một số bạn người nước ngoài đi thăm thú các địa phương.

Chuyến đi này có sự tham gia của ông J.Lassen - vị Đại sứ đầu tiên của Đan Mạch, tuy hết nhiệm kỳ nhưng năm nào cũng sang thăm hoặc cùng gia đình hưởng những kỳ nghỉ dài ngày ở Việt Nam, hai vợ chồng ông Đại sứ Ấn Độ Kumar mà ông chồng dáng vẻ khiêm cẩn rất điển hình một trí thức phương Đông, bà vợ là Chủ tịch Hội Những người bạn của di sản văn hóa ở Hà Nội với nụ cười dễ mến. Trong đoàn còn có bà Lorrel Browning (Mỹ) GS.TS chủ nhiệm Khoa Ngữ văn và Hòa bình học của Trường đại học Pacific bang Oregan, người đã khởi xướng xin tài trợ để chuyển ngữ, dựng vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt, kịch bản của Lưu Quang Vũ, đưa đoàn kịch Việt Nam sang Mỹ biểu diễn, đưa đoàn nghệ sĩ Mỹ sang diễn Giấc mộng đêm hè ở Việt Nam. Đặc biệt là cả gia đình bà L.Browning gồm 6 người: hai vợ chồng bà, hai đôi vợ chồng của hai con trai đều theo bố mẹ sang du lịch Việt Nam.

Ấn tượng khó quên chuyến thăm biên giới... 1Nhà bia Thủy môn đình ở Đồng Đăng, Lạng Sơn.

Chúng tôi nhằm hướng biên giới phía Bắc theo Quốc lộ 1, lên Lạng Sơn. Đoàn người hợp chủng dừng thăm ải Chi Lăng. Dưới màn mưa bụi giăng giăng, giữa giá lạnh vùng địa đầu biên giới, cụ Hữu Ngọc leo lên bên tấm bia kỷ niệm chiến thắng lịch sử bên vách núi, ở một thế cao để mọi người cùng nghe rõ. Cụ Hữu Ngọc dùng tiếng Việt tóm tắt trận đánh, rồi chuyển sang tiếng Anh với những giảng giải chi tiết hơn, về trận thảm bại của danh tuớng Liễu Thăng xảy ra nơi đây, một vùng núi non hiểm trở, đá lởm chởm như chông như mác của người dân sơn cước hỗ trợ quân triều đình chống giặc. Giọng nhà văn hóa Việt Nam (năm ấy 85 tuổi) vẫn sang sảng khúc triết thấm vào người nghe một cảm giác đặc biệt. Cụ đang đứng trên thế cao của văn hóa giữ nước, văn hóa lập nước mà trò chuyện với bạn bè bốn phương.

Hào sảng và nồng ấm là cảm giác của tôi giữa tiết trời giá lạnh.

Các bạn nước ngoài lắng nghe, bụi mưa đọng trên lông mày, lông mi, vừa nhìn quanh vùng hiểm địa. Hẳn họ đang hình dung ra tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, tiếng loa vang, tiếng gươm đao va chạm quanh những mỏm đá nhấp nhô. Chưa bao giờ tôi được ôn lại bài sử nước nhà giữa một không khí kỳ lạ như vậy! Tôi nghe bằng cả cảm giác của những người bạn phương xa. Đặc biệt, hai đôi vợ chồng trẻ người Mỹ mắt họ cứ sáng xanh lên, miệng hơi há ra, háo hức... Hẳn khi về nước, họ sẽ đọc lại trang sử về cuộc chiến Việt - Mỹ bằng con mắt khác!

... Qua khỏi bến xe Đồng Đăng, gần đến Trạm Kiểm soát liên hợp Dốc Quýt thì xe dừng lại. Chúng tôi theo cụ Hữu Ngọc, leo lên sườn một ngọn đồi bên vệ đường, dốc đến 45, 50 độ, may mà đã được vạt thành bậc. Dưới chân dốc có biển ghi Nhà bia Thủy đình. Chúng tôi leo độ trên trăm mét đã tới nhà bia.

Một cán bộ Bảo tàng Lạng Sơn cho chúng tôi hay: Ngày xưa, nơi này gọi là Đồi Sứ vì có trạm để sứ thần hai nước làm thủ tục xuất nhập cảnh. Tấm bia trên đồi lâu năm bị vùi lấp, nay bị mưa gió xói mòn làm  lở đất, bia lăn xuống chân đồi. Dân địa phương phát hiện, báo cho Phòng văn hóa huyện từ đầu những năm 70 (thế kỷ trước). Những người đọc được bia, biết đây là di tích quý giá, niên đại khắc bia từ năm 1670. Bài văn bia có hai chữ Việt Nam. Cụ Hữu Ngọc bảo: Có thể đây là hai từ Việt Nam được xuất hiện sớm nhất được tìm thấy trên một di vật. Lúc ấy đang thời kỳ chiến tranh ngổn ngang nhiều việc nên bảo tàng địa phương chưa kịp đề đạt lên Bộ Văn hóa xin phục chế. Hội Văn học nghệ thuật Lạng Sơn biết Quỹ TĐ-VNPTVH đang hoạt động bèn đứng ra xin tài trợ để phục chế và dựng nhà bia để bảo vệ. Hội quần chúng đề nghị mới đúng quy chế tài trợ của Quỹ (để không dẫm chân vào công việc của Bộ Văn hóa). Quỹ đã tài trợ 1.000 USD. Trước mắt tôi bây giờ là nhà bia có mái che, bên trong dựng tấm bia phục chế, một mặt được dịch ra chữ quốc ngữ (hẳn là tấm bia nguyên bản đã được lưu giữ  ở nhà Bảo tàng Lạng Sơn). Do mấy vết xi măng làm vài mặt chữ lem nhem, tôi chỉ ghi chữ được chữ mất, lược trích như sau:

...Yết hầu Việt Nam - ải quan trấn Bắc - Vách đá lớp lớp - phiên giới... Đồng Đăng linh áp... Trạm Sứ bên phải - Trước mặt Núi Tiền - Đỉnh cao bên trái - Núi đồi thâm nghiêm - Hai suối tụ hội - Đường núi bao quanh - Rồng ẩn hổ phục - Phượng múa loan bay - Con nối cha truyền - Tôn tạo bia đá - Để rùa đội mang... Con cháu  phồn thịnh - Kiếp kiếp lưu truyền - Dân yên vật lắm - Quốc mạnh vững bền...           

Văn bia không chỉ miêu tả chính xác “tọa độ” nơi đặt bia (như để dè chừng sự di chuyển cương giới đời sau), mà còn ghi nhận ý thức tự cường của người dân trước núi sông tươi đẹp  (Rồng chầu hổ phục - Phượng múa loan bay...) tin tưởng ở tương lai dân tộc (Con cháu phồn thịnh - Dân yên vật lắm - Quốc mạnh vững bền). Di vật thật quý giá với các nhà khảo cổ, các nhà viết sử!

Buổi trưa, cả đoàn được mời vào một gia đình người Tày ở xóm Bố Tra, thôn Lũng Cài, xã Tú Xuyên, huyện Văn Quan. Đường vào xóm, hai bên đầy hoa mận trắng. Những khóm tre bương, ruộng bậc thang, ba cây đào đang tưng bừng nở hoa ở trước sân chủ nhà đang đợi khách càng làm tăng không khí tiết xuân trong lành nơi đây!

Ông chủ nhà được giới thiệu là Hoàng Quốc Hưởng mời chúng tôi một bữa ăn toàn hương vị dân tộc. Rượu nấu lấy bằng ngô nếp với một thứ lá rừng, cơm lam với thịt gà nướng và ba loại rau rừng mà người thành phố chưa bao giờ được nếm. Có loại rau gọi là rau sau (bà chủ nhà sáng nay bán ở chợ được năm chục nghìn đồng). Món tráng miệng là bánh pẻng khoai, chế biến bằng bột nếp và mật ong rừng. Cô con gái chủ nhà bảo nếu khách chịu ở lại đêm nay, cô sẽ dạy cho cách làm. Giao lưu giữa khách với chủ thật đa dạng: hát then, hát lượn của dân tộc Tày, Nùng, các cô gái con chủ nhà và hàng xóm hát có đệm đàn tính. Hai cô gái Mỹ vui quá cũng song ca mấy bài dân ca đáp lại...

Phút chia tay, ba cây đào phai đang tưng bừng nở hoa được các cô gái chặt từng cành tặng khách mang về xuôi, làm cái Tết Quý Mùi năm ấy của chúng tôi kéo dài ra cả ngoài rằm tháng Giêng.

Vân Long


Tin chân bài
Tin liên quan
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm