Vị thuốc từ rễ cây qua lâu

SKĐS - Cây qua lâu (trichosanthes kirilowi maxim.) thuộc họ bí (cucurbitaceae), có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua (tên gọi ở miền Bắc, dây bạc bát, bát bát châu (tên miền Nam), người Tày gọi là thau ca.

Cây qua lâu (trichosanthes kirilowi maxim.) thuộc họ bí (cucurbitaceae), có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua (tên gọi ở miền Bắc, dây bạc bát, bát bát châu (tên miền Nam), người Tày gọi là thau ca.

Đó là một dây leo có rễ củ thuôn dài thắt khúc. Lá mọc so le, hình tim, xẻ 5 thùy nông, có khía răng, mặt trên điểm những chấm trắng, tua cuốn chia nhánh. Hoa đơn tính màu trắng, đầu cánh có nhiều sợi dài; hoa đực mọc thành cụm dài, hoa cái đơn độc ở kẽ lá. Quả hình cầu hoặc hình trứng, màu lục có dọc trắng, khi chín màu đỏ, hạt nhiều, hình trứng dẹt, màu nâu. Rễ cây qua lâu còn gọi là qua lâu căn, tên thuốc trong y học cổ truyền là thiên hoa phấn.

Dược liệu có màu vàng hoặc nâu nhạt ở mặt ngoài, mặt cắt màu trắng có điểm mạch gân màu vàng, thể chất cứng rắn, khó bẻ gãy, vị nhạt sau hơi đắng, chua, không mùi, tính hàn, có tác dụng sinh tân dịch, chỉ khát, nhuận táo, giảm đau chữa sốt nóng, đái tháo đường, miệng khô, khát nước, đoản hơi, hoàng đản, lở ngứa, sưng tấy, trĩ rò. Ngày dùng 8 - 16g dưới dạng thuốc sắc hoặc thái mỏng, giã nát, ngâm nước, lọc lấy bột, dùng mỗi lần 4 - 8g. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

- Chữa sốt nóng, da vàng, miệng khô khát: rễ qua lâu 8g, rễ cây é lớn đầu 8g hoặc hạt đậu đen 8g, sắc với 200ml còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày.

- Chữa mụn nhọt lâu ngày: rễ qua lâu 8g; ý dĩ, bạch chỉ, mỗi vị 10g. Sắc hoặc tán bột uống.

- Chữa đái tháo đường: rễ qua lâu 8g; thục địa, hoài sơn mỗi vị 20g; đơn bì, kỷ tử, thạch hộc mỗi vị 12g; sơn thù, sa nhân mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Hoặc rễ qua lâu 12g, rau bợ nước 10g, phơi khô, tán nhỏ, hòa với sữa uống.

- Chữa tắc tia sữa: rễ qua lâu 8g; bạch thược 12g; sài hồ, đương quy, xuyên sơn giáp mỗi vị 8g; thanh bì, cát cánh, thông thảo mỗi vị 6g. Sắc uống trong ngày.

- Chữa sốt rét, thể rét nhiều, sốt ít hoặc không sốt: rễ qua lâu 8g; mẫu lệ 12g; sài hồ, quế chi, hoàng cầm mỗi vị 8g; can khương, cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống.

- Chữa thấp khớp mạn: rễ qua lâu, thổ phục linh, cốt toái bổ, thạch cao, kê huyết đằng, đơn sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt mỗi vị 12g; bạch chỉ 8g; cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích


loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Vị thuốc từ rễ cây qua lâu

Click vào đây để gửi ngay bài viết về cho toà soạn.