Vào rừng... ăn mối

Suckhoedoisong.vn - Nếu như mọi năm, ở thời điểm này, mùa đi bắt mối về làm thực phẩm của người K’Ho đã vãn. Năm nay, mùa ấy đến muộn, chỉ vì cái nắng ấm chưa chịu ghé thăm những cánh rừng Tây Nguyên.

Do vậy, tháng 11 đã đi qúa nửa chặng đường, người K’Ho mới rục rịch rủ nhau vào rừng tìm mối.

Khởi hành từ bon Trang Woạt, xã Đinh Trang Hòa, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, chạy xe máy theo con lộ liên xã mất chừng 20 phút, chúng tôi đã có mặt tại cửa rừng Bơnơm lơòng, thuộc địa phận xã Hòa Bắc của huyện Di Linh, nơi mà người K’Ho vẫn thường tìm đến để bắt mối.

Mối, thực phẩm của người K’Ho

mơi Trim (phong tục người K’Ho tối kỵ việc sử dụng tục danh, tên bố mẹ thường được gọi theo tên người con đầu lòng, mơi Trim có nghĩa là mẹ của cô Trim), người có rất nhiều kinh nghiệm trong chuyện tìm bắt mối (k’nàp), cho biết: “K’nàp chỉ rời tổ khi có tiết trời nắng ráo. Còn những ngày mưa, nếu ra ngoài sẽ bị nặng cánh, nên chúng thường nằm im trong tổ”. Rồi bà bắt đầu thao thao kiến thức về mối: “Mối có nhiều loại. Ngoài bơtau k’nàp (mối chúa), mối lính và mối thợ, còn có k’nàp, brùngk’nàp byae... Trong rất nhiều loại mối đó, người K’Ho sử dụng mỗi loại vào một mục đích khác nhau: k’nàp dùng làm thực phẩm, brùng dùng làm mồi câu cá, k’nàp byae dành cho việc nuôi chim... Mối lính và mối thợ thì người K’Ho ít khi đụng tới”.Giăng mùng để bắt những con mối còn lại.

Giăng mùng để bắt những con mối còn lại.

Theo bà mơi Trim, khi cái hanh lạnh thập thò thay thế những cơn mưa rừng dai dẳng, ấy là thời điểm người K’Ho tụ tập thành từng nhóm, hăm hở rủ nhau đi bắt mối. “Nếu gặp hôm vừa mưa xong, phải đợi thêm 2 - 3 ngày nữa mới đi bắt mối. Thông thường, mối bắt đầu bay ra khỏi tổ vào tầm 2 giờ chiều. Nhưng thời điểm mà mối ra ngoài nhiều nhất là lúc trời sẩm tối”, bà mơi Trim chia sẻ.

Tất nhiên, đã là thợ săn mối, ngoài khả năng phát hiện tổ mối giỏi, kỹ năng bắt mối cũng đạt đến trình độ thượng thừa. Chưa đầy 10 phút len lỏi giữa bạt ngàn rẫy đồi cà phê, tôi đã thấy bà mơi Trim chỉ tay về phía một cái ụ đất đùn lên dưới lớp lá cỏ khô mục: “Đấy! Bơtul k’nàp (tổ mối) đấy!”. Nói xong, bà nhanh chóng thi triển các thao tác để bắt mối một cách rất điệu nghệ. Nhoáng một lát, 5 - 6 cái rút (dụng cụ kết bằng nan tre chuyên dùng để bắt mối) đã được bà mơi Trim đặt xong. Thấy có động, từng đàn mối lính, mối thợ lao ra tua tủa. Chúng giương càng ra oai để bảo vệ hang ổ và mối chúa.

“Tách”, tiếng động phát ra từ chiếc bật lửa gas do anh pạp Trúc, tức bố của cô Trúc, một thợ săn mối có thâm niên ở bon Trang Woạt, bật lửa để châm điếu thuốc sâu kèn to sụ quấn bằng lá n’ha pồt jrào (một loại lá rừng, gần giống thuốc rê). “Bập”, “bập”, “bập”..., sau mỗi lần rít thuốc, anh này liền phả khói phà phà vào tổ mối. Pạp Trúc chợt dừng lại, quay sang nhìn tôi, bảo: “15 phút nữa, lũ mối sẽ bắt đầu bay ra”. Quả nhiên, đàn mối sau khi say thuốc đứ đừ, chạy tán loạn ra khỏi tổ, rồi chui tọt vào trong rút. Chỉ đợi có thế, anh pạp Trúc đã tóm gọn toàn bộ số mối, bỏ vào trong rơđọ (túi đan bằng sợi cói) một cách gọn gàng và nhanh chóng. Tiếp tục thổi, lại bắt. Cứ thế, lặp đi lặp lại chừng 3 - 4 lần, pạp Trúc bắt đầu thay những cái rút bằng tấm vải mùng.

Mải mê dõi theo những động tác phả khói rồi bắt mối của anh pạp Trúc, tôi không hay biết trời đã bắt đầu nhá nhem tối. “Trong điều kiện thiếu ánh sáng, tấm vải mùng là giải pháp phù hợp để bắt nốt những con mối còn lại”, pạp Trúc vừa giăng mùng vừa giải thích.

Nhìn cái cách người K’Ho bắt mối đầy kinh nghiệm và cần mẫn, nhưng không bao giờ đụng đến mối chúa khiến tôi phải suy nghĩ. Thời gian gần đây, trước cơn sốt đặc sản về loại côn trùng này ở các nhà hàng nhằm phục vụ nhu cầu của những đại gia lắm tiền nhiều của (nghe đâu những con mối chúa là phương thuốc đặc trị chứng bất lực ở đàn ông?), không ít người đã bất chấp tất cả, truy lùng mối chúa theo kiểu tận diệt, để đổi lấy 15.000 - 20.000 đồng mỗi con. Trong khi đó, người K’Ho vẫn giữ nguyên cách hành xử rất văn minh: “Mối chúa không còn thì đàn mối chẳng thể nào tồn tại được”.Món mối rang muối.

Món mối rang muối.

Món khoái khẩu từ mối

Ánh nắng cuối chiều chợt lóe lên như lời nhắc nhở rằng ngày đã cạn. Pạp Trúc vội triển khai nốt những kỹ năng bắt mối lần cuối. Tôi và bà mơi Trim thì lo thu gom dụng cụ, chuẩn bị rời “chiến trường”. Mặc dù khá thấm mệt, nhưng nhìn rơđọ nặng trĩu những con k’nàp, chúng tôi ai cũng rạng rỡ. Dĩ nhiên, ở Bơnơm lơòng không chỉ có chúng tôi bắt mối, nhiều người địa phương cũng khoái món ăn này lắm. Cô mơi Bis, một trong những thợ bắt mối ở địa phương, mở rơđọ cho tôi xem bên trong đựng gần 5kg mối. “Thợ bắt mối giỏi, một ngày bắt 5 - 6kg mối là chuyện bình thường. Giá 1kg mối khoảng 100.000 đồng nhưng người K’Ho chúng tôi không đặt nặng vấn đề kinh tế, việc bắt mối chỉ để đáp ứng nhu cầu về ẩm thực”, cô mơi Bis nói.

Trở về bon Trang Woạt, dân trong bon rất vui với chiến lợi phẩm mà chúng tôi kiếm được. Mọi người cười nói rổn rảng rồi chia cho nhau những con mối béo ngậy. Còn tôi lặng lẽ quan sát cách dân bon ứng xử với sản vật và thoáng ngạc nhiên trước nhận thức có phần “đi trước thời đại” của cộng đồng dân tộc thiểu số nơi đây. Trong nếp nghĩ, nếp cảm của người K’Ho, sự tư hữu dường như chưa từng xuất hiện. Nếu có sự tư hữu, thì cũng chỉ xảy ra ở một vài người, vài nơi. Còn lại đa số người K’Ho vẫn giữ nguyên lối sống cộng cảm, cộng cư. Nghĩa là cùng làm, cùng ăn và cùng thụ hưởng.

Từ những con mối bắt được, người K’Ho có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như: rang, xào, hấp, chiên... tùy sở thích và khẩu vị từng người. Tôi thì chọn cho mình món đơn giản và dễ làm nhất: món mối rang muối. Bởi chế biến món này rất đơn giản, chỉ việc bỏ một ít mối vào trong pơlơ (loại túi nhỏ đan bằng sợi cói), lắc nhẹ cho mối rụng hết cánh, rồi đổ ra cái đoòng (giống cái mẹt) để sàng, sảy loại bỏ cánh. Sau đó, mối được bỏ vào xoong, thêm tí nước rồi bắc lên bếp đang đỏ lửa. Đun gần cạn nước mới nêm nếm thêm muối cho vừa miệng. Tiếp tục đun thêm 5 phút nữa thì tắt bếp và bắt đầu... chén. Trước kia, món mối rang muối này, người K’Ho còn dự trữ cho những ngày khan hiếm thực phẩm bằng cách mang phơi 1 - 2 nắng cho khô, rồi đem bỏ vào đinh đơr (ống nứa) và gác trên sàn bếp, 5 - 6 tháng sau lấy ra chế biến vẫn giữ nguyên mùi vị rất đặc biệt, không lẫn vào đâu được. “Mỗi lần nấu nướng, chỉ cần lấy một ít mối trong ống nứa mang ra chế biến là đã có thể có nồi canh bầu, canh bí hoặc canh rau bép ngon tuyệt!”, anh pạp Trúc tâm sự.

Trong căn nhà gỗ nhỏ, ngọn đèn điện vẫn điềm nhiên tỏa sáng. Gió đêm thoang thoảng thổi, tôi ngồi bó gối thưởng thức món mối rang muối, chiến lợi phẩm của một chiều lang thang cùng người K’Ho quần thảo giữa bạt ngàn rẫy đồi cà phê. Ngoài vườn, gió khuya vẫn dìu dặt, mênh mông.

TRỊNH CHU

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Vào rừng... ăn mối

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT