Trúc nhự, trúc lịch: Thanh nhiệt, bổ máu

SKĐS - Trúc nhự là phần cật tre trúc non (cạo bỏ tinh tre và lớp vỏ trong); trúc lịch là nước ép cật tre trúc (đốt tre trúc non bánh tẻ hơ nóng vắt ép lấy nước).

Trúc nhự là phần cật tre trúc non (cạo bỏ tinh tre và lớp vỏ trong); trúc lịch là nước ép cật tre trúc (đốt tre trúc non bánh tẻ hơ nóng vắt ép lấy nước). Trúc nhự và trúc lịch chứa các oligo và polysaccharit, các carbohydrate, acid amin và vitamin. Có tác dụng ức chế thần kinh, chống viêm chống loét, chống sưng nề.

Theo Đông y, trúc nhự vị ngọt hơi đắng, tính mát; vào vị đởm. Trúc lịch vị ngọt, tính lạnh; vào kinh tâm vị. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, thanh vị chỉ ẩu, lương huyết chỉ huyết. Trị nôn mửa, nấc cụt, ho suyễn, thổ huyết chảy máu cam; nôn do nhiễm độc thai nghén thời kỳ đầu, động thai. Ngày dùng 6 - 10g khô, 30 - 60g tươi bằng cách nấu sắc, pha hãm.

Bài thuốc trị bệnh có trúc nhự, trúc lịch:

Chữa viêm thanh quản nói không ra tiếng: trúc nhự, lá tre, tang bạch bì mỗi vị 12g; thổ bối mẫu, thanh bì, cát cánh mỗi vị 8g; nam tinh chế 6g, gừng 4g. Sắc uống, ngày 1 thang

Chữa viêm phổi giai đoạn đầu: trúc nhự 8g, kim ngân 15g, sài đất 15g, bồ công anh 15g, kinh giới 15g, cỏ mần trầu 15g, tang bạch bì 12g, hạnh nhân 8g. Sắc uống, ngày 1 thang

Chữa hen phế quản khi đang lên cơn hen: trúc lịch 20ml, tang bạch bì 20g, hạnh nhân 12g, hoàng cầm 12g, bán hạ chế 8g, ma hoàng 6g, cam thảo 4g. Sắc uống, ngày 1 thang.

Trị nôn khi mang thai: trúc nhự 6g, đảng sâm 16g, bạch truật 12g, ý dĩ 12g, trần bì 8g, bán hạ chế 8g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống trong ngày.

Trị viêm đại tràng mạn tính thể táo: trúc nhự 8g, sài hồ 12g, đương quy 12g, nhân trần 12g, chi tử (sao) 12g, vỏ cây khế 12g, đảng sâm 12g, chỉ thực 12g, thương truật 12g, bạch thược 12g, táo nhân (sao đen) 12g, cúc hoa 8g, bạc hà 6g. Sắc uống, ngày 1 thang.

Trúc lịch (nước ép tre trúc non) có tác dụng thanh nhiệt trừ đàm, chỉ huyết…

Trúc lịch (nước ép tre trúc non) có tác dụng thanh nhiệt trừ đàm, chỉ huyết…

Một số thực đơn chữa bệnh có trúc nhự

Cháo trúc nhự: trúc nhự tươi 30g, gạo tẻ 50g. Trúc nhự nấu lấy nước, đem nước nấu cháo gạo (cháo loãng), cho ăn ít một dần dần. Dùng cho người viêm dạ dày ruột, nôn ói (vị nhiệt ẩu thổ).

Cháo trúc lịch: trúc lịch 100ml, gạo tẻ 60g. Lấy đoạn non tre trúc ép lấy 100ml nước; gạo nấu cháo. Khi cháo chín, cho trúc lịch vào khuấy đều. Ngày làm 1 lần chia 2 lần ăn. Dùng cho bệnh viêm khí phế quản sốt nóng, ho đờm ít vàng dính, đau tức vùng ngực, mức độ nặng có lẫn tia máu trong đờm, khó thở.

Cháo trúc diệp thạch cao đậu xanh: trúc diệp 12g, thạch cao sống 30g, đại hoàng 8g, gạo tẻ 50g, đậu xanh 60g. Đem trúc diệp và các dược liệu nói trên nấu lấy nước. Gạo và đậu xanh vo sạch nấu cháo, cháo được cho nước thuốc vào, thêm đường trắng khuấy đều. Ăn sáng và tối. Tác dụng thanh nhiệt lương huyết giải độc. Dùng cho người sốt siêu vi trùng, sốt xuất huyết, mụn nhọt sưng tấy gây sốt.

Quất nhự ẩm: trúc nhự tươi 30g, quất bì tươi hoặc trần bì tươi 30g, mứt hồng 30g, chỉ xác 8g, gừng tươi 4g. Các dược liệu nấu lấy nước (bỏ bã), thêm đường uống. Dùng cho phụ nữ nôn do nhiễm độc thai nghén; hẹp môn vị sau phẫu thuật vùng bụng, có triệu chứng nôn, nôn ra thức ăn.

Trúc lịch thang: trúc lịch 100ml, sắn dây tươi 60g, nước ép gừng tươi 20ml. Lấy đoạn non tre trúc hơ nóng, ép lấy nước; gừng ép lấy nước; sắn dây sắc lấy 100ml; trộn đều 3 nước. Cho uống dần hoặc bơm qua sonde. Ngày 1 lần. Dùng cho người trúng phong - tai biến mạch máu não hôn mê (đột nhiên hôn mê bất tỉnh, liệt mặt, liệt mắt, liệt cứng tay chân...).

TS. Nguyễn Đức Quang

Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Trúc nhự, trúc lịch: Thanh nhiệt, bổ máu

Click vào đây để gửi ngay bài viết về cho toà soạn.

ĐỌC NHIỀU NHẤT