Trèo lên trái núi Thiên Thai

SKĐS - Đỉnh ngọn Thiên Thai (chừng 150m) nhô cao trên dãy núi chín khúc, nằm rải như một con rồng uốn lượn bồng bềnh trên sóng của những dòng sông, bao quanh xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, Bắc Ninh.

Đỉnh ngọn Thiên Thai (chừng 150m) nhô cao trên dãy núi chín khúc, nằm rải như một con rồng uốn lượn bồng bềnh trên sóng của những dòng sông, bao quanh xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, Bắc Ninh. Một vẻ đẹp bí ẩn còn đâu đó, hiện lên từ ngàn năm đã trôi qua, với những chòm hoa đào đuôi cáo, bên thềm lạnh của một ngôi chùa vàng trên đỉnh núi. Bồng lai tiên cảnh là đây, lung linh trong cánh chim phượng lượn bay, như mơ vậy...

“Chàng buông vạt áo em ra”

Xưa dân làng còn gọi tên núi là Đông Cứu, nôm na như cánh đồng làng bên sông Thiên Đức (sông Đuống), nghèo khó bao đời nay. Nhưng trong nhiều dịp các thiền sư đi truyền đạo đã phát hiện ra những ngọn núi đậm sắc hoang dã và mộng mơ với đàn chim phượng bay về làm tổ. Ngay từ năm 1055, vua Lý Thánh Tông đã cho xây chùa Tĩnh Lự trên núi Đông Cứu, với quy mô rất lớn. Hàng năm, vua cùng các hoàng thân trong triều về đây hành lễ. Gần chùa còn có những nhà nghỉ của những vua quan và vợ con nên được gọi là “Hành cung”, với thiết kế rộng lớn. Những kiến trúc mang những nét đẹp cổ kính đậm chất vương triều đã làm nên vầng hào quang cho ngọn núi soi gương bên sông Thiên Đức. Nhiều vị cao tăng đã đến đây tu hành và truyền dạy Phật pháp. Từ đó ngọn núi được gọi tên Thiên Thai. Trải qua các triều đại chùa Tĩnh Lự đều được trùng tu và nâng cấp ngày một linh thiêng, to lớn hơn và tạo dấu ấn sâu sắc trong hệ thống Phật giáo lâu đời nhất. Chính vì thế, vào năm 1648, chùa Tĩnh Lự được xếp hạng là một trong ba đại danh thắng ở vùng Đông Bắc, cùng với chùa Yên Tử  và chùa Phả Lại...

 

Góc núi Thiên Thai.

Góc núi Thiên Thai.

 

Kèm theo những mùa hành lễ của triều đình là các tổ chức hội lễ dân gian, hoạt động tưng bừng từ trước đó. Những làn quan họ như Lý Thiên Thai, cùng với ca dao ra đời rất sớm. Đời sống văn hóa tâm linh hiện hữu như một nhu cầu gắn bó với người dân lao động. Ắt hẳn câu ca dao: “Trèo lên trái núi Thiên Thai. Gặp hai con phượng ăn xoài trên cây. Đôi ta được gặp nhau đây. Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng” được khắc ghi trong tâm trí người dân kinh Bắc từ lâu đời. Kèm theo đó, bài Lý Thiên Thai cũng được bắt nguồn từ đây. Cho dù lời hát còn bay bổng hơn nhưng vẫn bắt nguồn từ câu chuyện tình yêu trên núi. Rằng: “Trèo lên trái núi Thiên Thai. Thấy chim loan phượng ăn xoài biển Đông. Anh hai buông áo em ra. Để em đi chợ kẻo đà chợ trưa. Chợ trưa rau sẽ héo đi. Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em”. Nhiều đời đã hát. Nhiều canh quan họ đã ca. Nhiều anh hai chị hai bị bỏ bùa vì câu hát ấy. Chuyện tình quê vào trẩy hội trên núi Thiên Thai làm xao động lòng người. Giai điệu rộn ràng, duyên dáng lại thêm phần e lệ tạo nên vẻ đẹp muôn đời trên vùng sông nước, núi non Bắc Ninh.

Cùng với ca dao và dân ca sớm gắn bó với lễ hội hàng năm là những áng thơ và ca khúc của các thi nhân và nhạc sĩ đã từng lên núi Thiên Thai. Nhà thơ kiêm bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đã ghi nhận vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của núi Thiên Thai với những ví von thú vị qua bài Vịnh núi Thiên Thai. Đặc biệt khi ông tả: “Một ngọn núi cao vút các núi khác đều vươn theo. Dòng sông nước chảy lượn quanh như chiếc đai vàng”. Trong kho tàng thơ của thi hào Nguyễn Du (1766-1820) cũng có bài Vọng Thiên Thai tự. Đây cũng là nỗi niềm nhớ tới quê mẹ ông ở Bắc Ninh, với tâm trạng khắc khoải: “Thiên Thai chùa dựng phía thành Đông. Khó đến vì chưng cách bức sông...”. Sau này nhiều nhà thơ nổi tiếng hay các nhạc sĩ cũng đã có những tác phẩm gắn bó với hình ảnh bồng lai tiên cảnh nơi đây.

Nếu thi sĩ Hoàng Cầm nhắc đến hình ảnh: “Mấy trăm năm ước hẹn tình duyên. Tiếng trống làng giục giã. Trên núi Thiên Thai... Gửi về may áo cho ai, Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu...” (Bên kia sông Đuống - 1948); thì nhạc sĩ Huy Du, trước khi mất (2007) ông đã kịp hoàn thành ca khúc cuối cùng của mình mang tên: Một thuở Thiên Thai. Giai điệu trữ tình và đằm thắm đậm nét duyên quan họ với những lời ca da diết: “Loan phượng bay rồi bao giờ trở lại. Gió se buồn man mác mây trôi”. Nhưng phải nói ca khúc Mẹ tôi của Trần Tiến được coi là tác phẩm mới nhất gắn bó với hình ảnh núi Thiên Thai, với những câu hát nặng trĩu nỗi niềm: “Trời gió mây ngàn một ngày khóc mẹ trăng tàn sao rơi. Trèo lên dãy núi Thiên Thai ối a mẹ tôi về đâu?” (ca sĩ Tùng Dương hát - 2014; ca sĩ Đồng Lan hát 2017). Cùng với đó mới đây, nữ sĩ Nguyễn Thị Mai (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã viết thơ tặng con gái khi về làm dâu đất quan họ, với những câu thơ đầy thương nhớ: “Con về Kinh Bắc quê hương. Theo người ngoan đất văn chương hiền tài. Mẹ ngồi tạ núi Thiên Thai. Nối duyên loan phượng lâu dài tình con”...

Vẫn còn đó vụ án oan khuất dưới chân núi Thiên Thai

Gần với thời điểm vua Lý Thánh Tông cho lệnh khởi công dựng chùa Tĩnh Lự (1055), thì 5 năm trước đó là ngày cất tiếng chào đời của cậu bé Lê Văn Thịnh, dưới chân núi Thiên Thai. Lê Văn Thịnh nổi tiếng là một thần đồng của làng Đông Cứu. Đến năm 13 tuổi Lê Văn Thịnh đã thông thạo kinh, sử, thi, thư. Ở tuổi 15-17 ông còn giỏi cả thiên văn, địa lý do chịu khó học hỏi và chăm chỉ tu tỉnh đức tính trầm tĩnh và cương trực. Ông không ngừng tích lũy kiến thức để dạy học và chuẩn bị cho kỳ thi sau đó. Vào năm 1075, triều đình mở khoa thi “Minh kinh Bác học” và “Nho học Tam trường”, Lê Văn Thịnh đã đỗ đầu bảng. Có thể coi ông là Trạng nguyên đầu tiên ở nước Đại Việt. Ngay sau đó, ông được giữ chức Thị độc chi, vào triều dạy vua Lý Nhân Tông học tập, bởi khi ấy vua mới lên 9 tuổi. Năm vua 18 tuổi phong cho thầy giáo của mình lên chức Thị lang Bộ Binh (năm 1084). Và ngay năm sau vua giao cho ông nhiệm vụ đi đòi lại tỉnh Cao Bằng, một vùng đất rộng lớn bị quan binh nhà Tống vô cớ lấn chiếm. Đây là một trọng trách đặc biệt đối với Lê Văn Thịnh.

 

Tượng rồng đá cắn thân mình.

Tượng rồng đá cắn thân mình.

 

Quả không hổ thẹn là Trạng nguyên nước Nam, Thị lang Bộ Binh Lê Văn Thịnh không những đòi được đất mà còn được triều Tống trọng thưởng, với tài thuyết giáo hùng biện và tinh tế của mình. Đây cũng có thể coi là một chiến thắng về ngoai giao, giành lại đất chủ quyền mà không tốn một giọt máu, làm rạng rỡ hình ảnh nước Đại Việt. Với công trạng to lớn đó, Lê Văn Thịnh được vua thăng chức Thái Sư, năm 1085. Nhưng biến động cuộc đời, sự nghiệp của Thái Sư Lê Văn Thịnh cũng bắt đầu từ đây, sau 10 năm thăng tiến. Ông là một tài năng lớn, tính tình cương trực thẳng thắn, đồng thời lại là một biểu tượng cho giới Nho học, tiến bộ có phần đối kháng với quyền lực Phật giáo đang thịnh hành thời đó. Nên không ít mâu thuẫn ngấm ngầm đã xảy ra trong triều, mà ông là đối tượng bị những kẻ đối lập, gian thần ganh ghét và tìm cách hãm hại.

Và, câu chuyện hoang đường đã xảy ra, vào năm 1095, khi ông đi tìm mời vua Lý Nhân Tông về triều. Lúc đó vua đang đi chơi thuyền trên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây). Không ngờ sương mù nổi lên dày đặc che khuất mọi cảnh vật. Bầu trời âm u như cơn dông sắp đến. Vua chưa định hình được nẻo về thì chợt nghe thấy tiếng động ở mạn thuyền, bèn đâm giáo về phía trước. Bỗng loáng sương tan. Không gian mờ ảo. Vua hoa mắt bỗng nhìn thấy một con hổ ngồi trên thuyền như đang muốn vồ lấy mình. Hoảng hốt vua la lớn. Một người đánh cá ở gần đó đã tung lưới chụp lấy con hổ. Khi gần tới nơi vua mới nhận ra đó chính là thầy giáo của mình - Thái sư Lê Văn Thịnh, bên cạnh còn có cả hung khí. Vua lên cơn giận dữ, bán tín bán nghi cho là Thái sư định hại mình, muốn đoạt ngôi vương. Ngay lập tức “Vụ án hồ Dâm Đàm” được đưa ra xét xử, với tội danh Thái sư hóa hổ giết vua. Nhưng có lẽ với tài năng lập luận sắc sảo, hùng biện trong chứng cứ cùng với chí khí quật cường để tự bảo vệ mình, Thái Sư Lê Văn Thịnh chỉ bị vua giáng chức, miễn tội chết và đưa đi đầy ở vùng núi cao hiểm trở (Tam Nông - Phú Thọ).

Sau này và mãi mãi, vụ án oan thấu trời của Thái sư Lê Văn Thịnh không có lời giải đáp và chìm trong quên lãng. Người xưa kể, sau khi già yếu, lực tàn sức kiệt, Thái sư Lê Văn Thịnh mới tìm đường về quê dưới chân núi Thiên Thai. Nhưng khi đi đến làng Đình Tổ (huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), cách quê không bao xa, ông bị bạo bệnh mà chết. Đến nay cả mười làng quanh vùng đều tôn ông là Thành hoàng làng.

Rồng đá - Giải mã oan khiên?

Mấy trăm năm sau, ngôi chùa lớn Tĩnh Lự trên núi Thiên Thai dần dần bị tàn phai, với thời gian. Giờ chỉ còn là hoang mạc cùng vết móng của ngôi chùa trăm gian thuở nào. Núi Thiên Thai bị bom đạn, chỉ còn bồn đốt của giặc Pháp, lưu dấu tích cho đến nay. Rêu phong đã phủ kín đống gạch đổ nát, cho dù thi thoảng những cánh chim Phượng vẫn bay về với tiếng kêu xót xa, hoảng hoải. Tựa như vụ án bí ẩn “hóa hổ giết vua” của Thái sư Lê Văn Thịnh không được giải oan.

Nhưng thật bất ngờ, vào năm 1992 lại có chuyện kỳ lạ xảy ra ngay dưới chân núi Thiên Thai, bên cạnh ngôi đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh. Trong một cuộc đào bới dọn dẹp, người dân trong vùng phát hiện một bức tượng rồng đá, nặng hơn một tấn, bị chôn vùi hàng trăm năm trước. Đó là hình ảnh con rồng tự cắn vào thân mình. Kèm với đó, những móng rồng sắc nhọn cắm chặt vào vây và đuôi. Ánh mắt rồng hiện lên sự sám hối và tự trách phạt bản thân. Rồng đá có bố cục độc đáo, thể hiện hàm ý ẩn giấu nỗi ân hận, muộn màng.

Không biết ai là tác giả và được làm từ bao giờ, nhưng tượng rồng đá hiện diện như thêm một biểu tượng minh chứng cho nỗi niềm oan khiên của Thái sư, làng Đông Cứu. Và, cũng đã hàng trăm năm nay, cứ ba năm một lần, mười làng tôn ông là Thành hoàng làng, đều tập trung lễ hội lớn (Hội đình Thập đình) vào các ngày (từ mùng 5 đến 7 tháng hai âm lịch) để tưởng nhớ ông dưới chân núi Thiên Thai.

Bài và ảnh: Vương Tâm

loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Trèo lên trái núi Thiên Thai

Click vào đây để gửi ngay bài viết về cho toà soạn.