Thuốc chữa bệnh tiêu hóa gây hại đường tiêu hóa

Suckhoedoisong.vn - Trong thực tế, một số người khi sử dụng các thuốc thông thường để chữa bệnh về đường tiêu hóa sẽ gặp phải những phản ứng có hại lên hệ tiêu hóa do chính tác dụng của thuốc hoặc do liều lượng thuốc.

Trong thực tế, một số người khi sử dụng các thuốc thông thường để chữa bệnh về đường tiêu hóa sẽ gặp phải những phản ứng có hại lên hệ tiêu hóa do chính tác dụng của thuốc hoặc do liều lượng thuốc. Vậy đó là những loại thuốc nào?

Thuốc trung hòa acid chlorhydric (HCl)

Thuốc trung hòa HCl thường được sử dụng hiện nay là các thuốc nhôm hydroxyd, magnesie hydroxyd, nhôm phosphat, calci carbonat. Các loại thuốc này ngoài tác dụng tích cực trong việc trung hòa acid dạ dày, sau khi ngừng dùng chúng có thể gây tăng tiết gastrin làm cho dịch vị acid tăng trở lại. Các loại thuốc có muối nhôm hay gây táo bón, ngược lại các loại thuốc có muối magnesie lại gây ra tiêu chảy. Vì vậy, trong công thức điều trị thường phải phối hợp cả hai loại muối này.

Thuốc chống tiết acid chlorhydric (HCl)

Thuốc chống tiết HCl gồm thuốc ức chế histamin H2 và thuốc ức chế bơm proton. Thuốc ức chế histamin H2 như: cimetidin, ranitidin, famotidin, nizatidin... Những loại thuốc này có thể gây ra triệu chứng buồn nôn, nôn, tiêu chảy hoặc táo bón thoáng qua và tự khỏi mà không cần biện pháp can thiệp.

Thuốc ức chế bơm proton như: omeprazol, lansoprazol... có tác dụng ức chế rất mạnh đến việc tiết HCl nhưng cả hai thuốc này đều gây ra những tác dụng phụ ở đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn, đau bụng, táo bón, trướng bụng, tiêu chảy...Tư vấn dùng thuốc

Tư vấn dùng thuốc cho người bệnh. Ảnh: TM

Thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày

Thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày thường dùng gồm: bismuth, sucralfat, prostaglandin. Thuốc thuộc nhóm bismuth hiện nay thường dùng dưới dạng subcitrat hoặc citrat. Ngoài tác dụng diệt loại vi khuẩn Helicobacter pylori hiện diện trong dạ dày, bismuth còn có tác dụng băng se, bảo vệ niêm mạc dạ dày. Khi sử dụng nhóm thuốc này, một số tác dụng không mong muốn gây hại về tiêu hóa có thể xảy ra nhưng thường chỉ nhẹ và thoáng qua như: buồn nôn, nôn, đi đại tiện phân lỏng và có màu đen. Thuốc thuộc nhóm sucralfat như nhôm saccharose sulfat rất ít hấp thu qua ống tiêu hóa nên tác dụng không mong muốn xảy ra chủ yếu là do chất nhôm nên thường gặp nhất là triệu chứng táo bón, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đầy bụng, khó tiêu và khô miệng...

Thuốc thuộc nhóm prostaglandin lúc đầu dùng với liều lượng bảo vệ niêm mạc dạ dày không thấy có tác dụng đến việc tiết HCl. Do đó muốn có tác dụng ức chế bài tiết HCl cần phải dùng liều cao. Với việc sử dụng liều cao, kết quả đạt được cũng chỉ ngang với thuốc ức chế histamin H2, nhưng lại phải đối diện với tác dụng có hại không mong muốn của thuốc như gây buồn nôn, nôn, tiêu chảy...

Thuốc nhuận tràng

Những người bị táo bón phải sử dụng thuốc nhuận tràng để can thiệp nhưng thuốc có thể gây ra tác dụng không mong muốn thông thường là tiêu chảy. Cơ chế gây ra tiêu chảy do thuốc nhuận tràng là tăng tiết dịch của niêm mạc ruột hoặc do tăng thẩm thấu. Tình trạng tiêu chảy có thể xảy ra bột phát nhất thời cho người sử dụng mỗi khi uống thuốc nhuận tràng nhưng cũng có thể trở thành bệnh lý nên thường được gọi là “bệnh do thuốc nhuận tràng” xảy ra ở những người lạm dụng thuốc, thường xuyên dùng thuốc nhuận tràng. Ở nước ta bệnh lý này ít gặp nhưng hay xảy ra nhiều ở các nước châu Âu, trong đó có 90% là đối tượng phụ nữ tuổi còn trẻ. Thực tế tất cả các loại thuốc nhuận tràng đều có thể gây nên phản ứng này như: thuốc có các muối magnesie gồm sulfat, citrat hoặc chlorid; sorbitol, mannitol, lactulose, các anthraquinon...Biểu hiện triệu chứng lâm sàng ghi nhận trong trường hợp những người sử dụng thuốc nhuận tràng có phản ứng không mong muốn là tiêu chảy kéo dài, phân lẫn nhiều nước, có thể làm cho người sử dụng gầy sút và nhất là bị hạ kali máu được phát hiện trên lâm sàng, điện tâm đồ, xét nghiệm chất điện giải trong máu; độ pH của phân có thể bình thường ở những người dùng thuốc có các muối magnesie hoặc giảm ở những người dùng thuốc có sorbitol, mannitol hay lactulose. Ở những người sử dụng thuốc anthraquinon khi soi đại tràng có thể thấy niêm mạc ruột bị sạm đen, đôi khi phát hiện có cả những nốt loét trợt.

Thuốc điều chỉnh nhu động ống tiêu hóa

Thuốc điều chỉnh nhu động ống tiêu hóa gồm thuốc kích thích nhu động ruột và thuốc kìm hãm nhu động ruột. Khi dùng để điều trị bệnh đường tiêu hóa, chúng có thể gây nên một số tác dụng không mong muốn.

Thuốc kích thích nhu động ruột có ba loại thông dụng hiện nay là metoclopropamid (primperan, domperidon và cisaprid). Những thuốc này rất ít khi gây ra tác dụng không mong muốn về tiêu hóa, tuy vậy trong một số trường hợp có thể làm đau quặn bụng thoáng qua, bị sôi bụng hoặc đi tiêu chảy. Thực tế chỉ cần giảm liều lượng dùng của thuốc thì sẽ khỏi các triệu chứng.

Thuốc kìm hãm nhu động ruột như loperamid có tác động chủ yếu lên nhu động ruột, thường được chỉ định sử dụng khi đi tiêu chảy không phải do nguyên nhân vi khuẩn hoặc ký sinh trùng. Do đặc tính kìm hãm nhu động ruột nên thuốc loperamid có thể gây táo bón, cần lưu ý thận trọng khi dùng cho trẻ em vì thuốc có thể gây nên tình trạng liệt ruột.

Vì vậy, để tránh hậu quả xấu do thuốc, người bệnh không được tự ý mua thuốc điều trị mà phải đi khám bác sĩ để được kê đơn, tư vấn và hướng dẫn việc sử dụng thuốc nhằm bảo đảm việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý.

DS. Dương Tuyết

Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com