Đường dây tiếp nhận những thông tin bất cập trong ngành Y
duongdaynongyte@gmail.com
19009095

Cập nhật 22:49 ngày 09/11/2011

Vĩnh biệt Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Viện sĩ Phạm Song

Ngày 9 tháng 11, 2011 | 22:49

Giáo sư, Viện sĩ Phạm Song là một trong số chuyên gia y học hàng đầu của nước ta, suốt đời say mê làm việc không mệt mỏi vì sứ mệnh vinh quang của người thầy thuốc.

 Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Viện sĩ Phạm Song
Buổi sáng 8/11/2011, ngày cuối cùng của cuộc đời, GS. Pham Song đã nhiệt tình tham gia buổi hội thảo khoa học về y tế, vui vẻ cởi mở nói chuyện với các đồng nghiệp trẻ, đã phát biểu những ý kiến đầy tâm huyết, sôi nổi về các công việc của ngành y tế , rồi sau đó, cơn đau tim đột ngột đã đưa ông ra đi mãi mãi. Ông ra đi để lại nhiều công việc nghiên cứu khoa học và viết sách về y học còn dang dở…

Giáo sư, Viện sĩ Phạm Song là một trong số chuyên gia y học hàng đầu của nước ta, suốt đời say mê làm việc không mệt mỏi vì sứ mệnh vinh quang của người thầy thuốc. Bước vào tuổi 80 nhưng niềm say mê đó không hề giảm sút mà ông rất tự hào đã hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ, cống hiến hết mình cho sự nghiệp y tế của nước nhà.

Một sự nghiệp vẻ vang

Ông là sinh viên y khoa khoá 1952 -1956 của Đại học Y dược khoa trong kháng chiến, đã tích cực tham gia phục vụ bộ đội và nhân dân trong kháng chiến, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ và các công tác y tế khác trong hoà bình.

Năm 1955, ông trở về Trường đại học Y khoa hoàn thành các chương trình học, tốt nghiệp xuất sắc bác sĩ năm 1956 chuyên khoa tim mạch. Ông đạt điểm cao nhất cả trong chấm luận án và thi lâm sàng. Giáo sư Đặng Văn Chung chỉ cho 9 điểm với ý nghĩa “Bớt đi một điểm cho khỏi kiêu căng, vì kiêu căng tự phụ chẳng làm được gì nhiều, khi chọn ngành y”.

Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch đã có công đào tạo và bồi dưỡng ông từ một bác sĩ chuyên khoa tim mạch chuyển sang chuyên khoa truyền nhiễm với giải thích: “Bệnh nhiễm trùng hiện nay là bệnh hàng đầu của nước ta. Tôi cần một cán bộ trẻ sang làm ngành này đáp ứng trước mắt và lâu dài” và ông đã phấn đấu hoàn thành tốt mong muốn nguyện vọng của thầy Phạm Ngọc Thạch, trở thành giáo sư giỏi đầu ngành.

Ông được cử dự các khóa đào tạo sau đại học với kết quả xuất sắc. Tại Rumani, ông được điểm 10 cho cả 4 chứng chỉ, hay khi tốt nghiệp lớp miễn dịch học của Tổ chức Y tế Thế giới tại Thụy Sĩ, ông đạt 297 điểm trên tổng 300 điểm. Ông Chủ tịch Hội đồng nói: “Bớt 3 điểm để nhớ y học vô cùng rộng lớn không bao giờ biết hết”.

GS. Phạm Song là Chủ nhiệm Khoa Bệnh nhiễm trùng Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô (1966-1980). Năm 1981, ông được đề bạt làm Phó giám đốc và năm 1982 làm Giám đốc. Ông luôn kiên trì tự nâng cao năng lực, nghề nghiệp, tích cực tham gia giảng dạy, làm nghiên cứu khoa học.

Bộ trưởng Bộ Y tế Đặng Hồi Xuân nhận ra năng lực chuyên môn và khả năng quản lý của ông, đã đề nghị Chính phủ giao nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Y tế cho ông vào đầu năm 1984. Là Thứ trưởng bận nhiều công việc, GS. Phạm Song vẫn kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm và đảm bảo các tiết giảng dạy mỗi năm tại Trường đại học Y Hà Nội. Khi thành lập Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới, ông kiêm nhiệm chức vụ Viện trưởng.

 GS.VS. Phạm Song hướng dẫn các cán bộ trẻ tại Phòng xét nghiệm sinh học phân tử - Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. Ảnh: Trần Thanh Giang
Nhà chiến lược y tế

Ông đã chủ trì cùng các vụ, viện trưởng đầu ngành và các cán bộ vụ, cục Bộ Y tế soạn thảo Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, được Quốc hội khoá XIII phê duyệt ngày 30/6/1989 và soạn thảo Chiến lược bảo vệ sức khỏe nhân dân 1990-2000. Đây là dấu son về đổi mới phương thức hành động theo khoa học y tế công cộng của nước ta mà đến nay nội dung các chương trình và phương pháp quản lý vẫn còn mang tính thời sự. Ông cũng là người bằng nghiên cứu thực tiễn và học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền y tế tiên tiến, đã đề xuất ra chủ trương từ thu một phần viện phí tiến tới đề xuất được Nhà nước ban hành chính sách bảo hiểm y tế, đến nay sau 20 năm đã phát triển trên phạm vi toàn quốc với nhiều loại hình phong phú, chăm lo bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.

Người chỉ huy xuất sắc của Chương trình Tiêm chủng mở rộng

GS. Phạm Song, Thứ trưởng Bộ Y tế (1984- 1988), Bộ trưởng Bộ Y tế (11/1988 - 10/1992) là người lãnh đạo với nhiều chủ trương và việc làm để Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) có nhiều thành công, tạo một bước tiến quan trọng trong hoàn cảnh kinh tế và xã hội của nước ta trong thời kỳ đất nước có nhiều khó khăn nhất.

Bộ trưởng đã tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đã viết thư cho ngài Jame Grant - Tổng Giám đốc UNICEF: “Mời ông sang thăm nước tôi, để có thể giúp chúng tôi khắc phục hoàn cảnh hiện nay. TCMR khó đạt các chỉ tiêu đã xác định, các nhân viên y tế cơ sở không có lương và phụ cấp. Chúng tôi mời ông gặp Thủ tướng nước tôi và đề nghị ông cấp cho chúng tôi một khoản viện trợ đặc biệt, để cán bộ y tế tuyến xã có lương, để họ làm tiêm chủng”. Ngài Jame Grant đã sang Việt Nam, nước ta đã nhận được khoản viện trợ đặc biệt đó. Chương trình TCMR là chương trình quốc gia, nếu đạt thành tích cao sẽ kéo theo việc phục hồi hoạt động của các trạm y tế xã.

Nhiều cống hiến cho khoa học

Điều mà GS. Phạm Song tâm đắc nhất trong hoạt động khoa học y tế là quyết tâm đưa artemisinin vào điều trị sốt rét do Plasmodium Falciparum kháng thuốc. Ông đã đề nghị Đảng và Chính phủ phát động phong trào di thực thanh hoa hoa vàng từ Lạng Sơn về các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Chỉ sau 2 năm từ chỉ có 36kg artemisinin bột, chúng ta đã có 3 tấn artemisinin bột cùng các dẫn xuất với nhiều dạng bào chế đủ dùng trong nước như tiêm tĩnh mạch, viên đặt hậu môn. Có thuốc artemisinin cùng với việc tẩm màn permethrin chống muỗi đã khống chế được sốt rét, không có dịch lớn xảy ra và rất hiếm khi có tử vong sốt rét ác tính do Plasmodium Falciparum. Bộ Y tế đã hướng dẫn kỹ thuật sử dụng artemisinin và các dẫn xuất sản xuất trong nước để điều trị vào năm 1990 và sau đó 9 năm y tế thế giới đã công nhận chọn artemisin là thuốc hàng đầu để điều trị sốt rét do Plasmodium Falciparum”.

Việt Nam hiện là nước xuất khẩu artesiminin về dẫn xuất và cả nguyên liệu sang các nước châu Phi và châu Âu, công trình đã tập hợp rất nhiều đơn vị khoa học và hàng chục bác sĩ tham gia, đã được tặng giải thưởng khoa học công nghệ Hồ Chí Minh 2000.

GS.VS. Phạm Song còn được giao chủ nhiệm chương trình khoa học nhà nước về chống nhiễm khuẩn 1990-2000 mã số KYO1. Ông đã đề nghị thành lập Ủy ban Quốc gia phòng chống HIV/AIDS khi chưa có ca HIV(+) nào ở Việt Nam và từ năm 1990 đã có chương trình trung hạn giảm thiểu tác hại lây nhiễm HIV do y tế thế giới hỗ trợ xây dựng, xây dựng báo điện tử về đái tháo đường và vận động xây dựng Chiến lược toàn diện về phòng chống viêm gan virut B, C và đái tháo đường.
 
Là tác giả của nhiều cuốn sách giá trị

GS.VS. Phạm Song còn là đồng chủ biên với PGS.TS. Nguyễn Hữu Quỳnh - chuyên gia về ngôn ngữ học, với sự cộng tác của 120 giáo sư, tiến sĩ y học nhiều thế hệ để biên soạn 4 tập Bách khoa thư bệnh học, được khởi công từ năm 1990 và hoàn thành năm 2004 đã tái bản đến lần thứ ba. Từ năm 2009 đến nay, Giáo sư cùng các đồng nghiệp chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa y học Việt Nam.

Ông là tác giả và rất tâm đắc với cuốn HIV/ AIDS, đề cập toàn diện đầu tiên về chủ đề này. Bao nhiêu điều học được ở Hà Lan và kinh nghiệm thực hành của ông được thể hiện trong cuốn Những vấn đề cơ bản và mới về bệnh viêm gan virut. Ông cũng viết cuốn Lâm sàng và điều trị sốt rét, xuất bản năm 1994 nêu rõ sốt rét ác tính chủ yếu là do tắc mạch não còn các phản ứng khác là thứ phát và đề cao việc dùng artesiminin và thuốc chống huyết khối. Trong chỉ đạo phòng chống sốt xuất huyết, ông chủ trương dập dịch phải bắt đầu khi có những ca sốt Dengue cổ điển… Tất cả những suy nghĩ chiến lược và chính sách về y tế, nước sạch vệ sinh môi trường, dân số và sức khỏe sinh sản đã được ghi lại trong cuốn Những vấn đề cơ bản về y tế, kế hoạch hoá gia đình, vệ sinh môi trường 1980 - 2000 và nhiều sách khác như: Sử dụng thuốc hợp lý - 1984, Cẩm nang dùng thuốc cho cán bộ y tế xã - 1988… GS.VS. Phạm Song - một cán bộ đảng viên ưu tú - một trái tim nhân hậu - một trí tuệ bác học đã phấn đấu quên mình cho sự nghiệp khoa học và y tế nước nhà. Cuộc đời ông đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, làm rạng rỡ nền y học nước nhà trước bạn bè thế giới.

TRẦN GIỮU

Tiểu sử GS.VS. Phạm Song

GS.VS Phạm Song sinh ngày: 23/11/1931.

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quê quán: Xã Sơn Long, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Quá trình công tác: 1981-1984: Phó Giám đốc rồi Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô.

1984-1988: Thứ trưởng Bộ Y tế.

1984 - 1995: Viện trưởng Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới. Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm Trường đại học Y Hà Nội.

11/1988 - 10/1992: Bộ trưởng Bộ Y tế - Ủy viên Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII. Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế, Chủ nhiệm Khoa Y học công cộng, Trường đại học Y Hà Nội. Phó Chủ tịch Hội đồng Y tế thế giới (1992).

1992-1994: Đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ.

1994-2000: Phó ban Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường.

Chủ tịch Hội Nước khoáng Việt Nam. Chủ tịch Hội Kế hoạch hóa gia đ.nh. Chủ tịch Hội Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới.

Chủ tịch Tổng hội Y dược học Việt Nam (2005-2010). Ủy viên thường vụ BCH Tổng hội y học VN (nhiệm kỳ 2011-2015).

Viện sĩ Viện Hàn lâm hệ thống biện chứng, Liên bang Nga (3/2000).

Nghỉ hưu năm 2000.

Khen thưởng:

Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huân chương

Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất. Huân chương Độc lập hạng Nh.. Thành viên của tập thể được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Danh hiệu: Thầy thuốc Nhân dân. Nhà khoa học tiêu biểu cống hiến trọn đời cho y học do Viện Tiểu sử Hoa Kỳ tặng năm 2006.

Chia sẻ: Email Print 0Bình luận »

Gửi bình luận của bạn

Các thắc mắc của bạn đọc về sức khỏe sẽ được giải đáp tại chuyên mục Phòng mạch online, mời các bạn đón đọc.
Tổng biên tập: TTƯT.BS.Trần Sĩ Tuấn