Đường dây tiếp nhận những thông tin bất cập trong ngành Y
duongdaynongyte@gmail.com
19009095

Cập nhật 11:40 ngày 07/04/2009

Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập (*)

Ngày 7 tháng 4, 2009 | 11:40

Bộ Chính trị vừa có Kết luận số 42-KL/TW “Kết luận của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương và giá dịch vụ y tế) đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập”

Bộ Chính trị vừa có Kết luận số 42-KL/TW “Kết luận của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương và giá dịch vụ y tế) đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập” và Kết luận số 43-KL/TW Kết luận của Bộ Chính trị về 3 năm thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” và 5 năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 22/1/2002 của Ban Bí thư (Khóa IX) về “Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở”. Báo Sức khỏe & Đời sống trích đăng các kết luận trên.

I. Kết luận số 42-KL/TW

Về quan điểm

Bộ Chính trị tán thành các quan điểm, mục tiêu nêu trong Đề án, đồng thời nhấn mạnh:

1. Hệ thống y tế công lập phải giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt trong việc giữ vững định hướng công bằng, hiệu quả, phát triển và đảm bảo an sinh xã hội. Vì vậy, hệ thống y tế công lập phải tiếp tục được mở rộng và phát triển. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư, phát triển bệnh viện công, đổi mới cơ chế hoạt động của các bệnh viện công để hoạt động ngày càng năng động, hiệu quả. Không cổ phần hóa bệnh viện công lập hiện có; khuyến khích xã hội hóa, xây dựng và thành lập mới bệnh viện cổ phần, bệnh viện liên doanh, cơ sở khám chữa bệnh, bệnh viện tư nhằm tăng thêm số lượng cơ sở cung ứng dịch vụ và cơ sở dịch vụ y tế chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao và đa dạng của nhân dân, tăng khả năng lựa chọn của người dân đối với các dịch vụ y tế; vừa bảo đảm có đủ cơ sở cho người nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế có chất lượng ngay từ tuyến ban đầu.

2. Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt hơn Nghị quyết 46-NQ/TW, ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” và Nghị quyết số 18/2008/NQ-QH12, ngày 3/6/2008 của kỳ họp thứ ba, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khóa XII) về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong đó bảo đảm tăng tỷ trọng chi ngân sách Nhà nước hằng năm cho sự nghiệp y tế với tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách nhà nước; đồng thời cơ cấu lại phân bổ ngân sách theo hướng ưu tiên bảo đảm cho vùng núi, vùng khó khăn, y tế dự phòng, y tế cơ sở, thông tin - truyền thông - giáo dục sức khỏe, dân số - kế hoạch hóa gia đình, vệ sinh an toàn thực phẩm, ưu tiên chi đầu tư phát triển để nâng cấp và hoàn thiện hệ thống y tế công lập và bảo đảm an sinh xã hội trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.

3. Đổi mới cơ chế tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập gắn với việc thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân, đồng thời theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ y tế. Nguồn tài chính công, gồm ngân sách Nhà nước và bảo hiểm y tế, phải là nguồn chính, chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng chi xã hội cho y tế, giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm hoạt động của các cơ sở khám và chữa bệnh tại các bệnh viện công lập; thông qua hình thức bảo hiểm y tế, Nhà nước đảm bảo kinh phí khám chữa bệnh cho người có công với cách mạng, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi... và hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo.

Chủ động thu hút các nguồn vốn đầu tư, các cơ sở y tế công lập đã được trang bị thiết bị y tế hiện đại nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Ảnh: PV 

Về một số nội dung đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính, Bộ Chính trị có ý kiến như sau:

1. Trước mắt, Chính phủ ưu tiên chi từ ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, nguồn vốn ODA để đầu tư nâng cấp và phát triển hệ thống y tế công lập. Bảo đảm đủ ngân sách thực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách xã hội, người có công với cách mạng, trẻ em dưới 6 tuổi; hỗ trợ mệnh giá bảo hiểm y tế cho người cận nghèo. Ngân sách Nhà nước ưu tiên đầu tư cho hoạt động y tế dự phòng và các cơ sở khám, chữa bệnh lao, bệnh phong và bệnh tâm thần, các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho các cơ sở y tế công lập thu hút các nguồn vốn đầu tư khác dưới hình thức vay vốn để nâng cấp trang thiết bị và hạ tầng cơ sở. Cần tổng kết và có kết luận về việc đầu tư dưới dạng góp vốn với mọi hình thức trong các cơ sở y tế công lập.

2. Đồng ý dựa trên cơ sở kết quả thực hiện việc tự chủ sẽ tiến hành phân loại các bệnh viện và các đơn vị sự nghiệp y tế công lập. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc phân loại các nhóm bệnh viện cho phù hợp. Trong quá trình tiến hành phân loại bệnh viện, cần kịp thời phát hiện và khắc phục các khuynh hướng biến bệnh viện công thành bệnh viện tư dưới mọi hình thức, khắc phục những hạn chế do việc thực hiện cơ chế tự chủ hoàn toàn về tài chính trong ngành y tế. Việc áp dụng phân loại nhóm bệnh viện cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, nhất là trong các đơn vị y tế thuộc các ngành công an, quân đội.

3. Đồng ý về nguyên tắc xây dựng khung giá dịch vụ y tế theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ, bảo đảm rành mạch giữa hỗ trợ của Nhà nước và phần đóng góp của người dân trong giá dịch vụ, phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh ở các vùng có mức thu nhập khác nhau, bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe, song cần có cơ chế, chính sách quản lý, giám sát chặt chẽ để tránh sự lạm dụng kỹ thuật, dịch vụ y tế, thuốc men đối với người bệnh. Cần có những giải pháp cụ thể để khuyến khích các chuyên gia, thầy thuốc giỏi, đặc biệt là các cán bộ y tế giỏi đang công tác tại các vùng khó khăn, miền núi, y tế cơ sở...

4. Cho phép thực hiện chế độ phụ cấp hợp lý đối với cán bộ y tế theo nghề (trước mắt áp dụng tương đương như với người thầy giáo), theo vùng, miền, theo các chuyên ngành độc hại, nguy hiểm đối với sức khỏe cán bộ y tế. Chính phủ căn cứ khả năng ngân sách và tình hình thực tế để quyết định mức cơ cấu chi phí công lao động vào giá dịch vụ y tế của các nhóm bệnh viện cho phù hợp với khả năng chi trả của người dân và cân đối quỹ bảo hiểm y tế.

5. Việc thực hiện chính sách luân phiên cán bộ và thực hiện nghĩa vụ xã hội của cán bộ y tế đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và vùng khó khăn là cần thiết, góp phần bảo đảm công bằng xã hội. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, tiến tới luật hóa nghĩa vụ, trách nhiệm của cán bộ y tế đối với vùng kinh tế xã hội khó khăn của đất nước; sớm thực hiện việc cấp chứng chỉ hành nghề cho cán bộ y tế nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước.

6. Đối với y tế địa phương, Nghị quyết 46-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Các đơn vị chuyên môn về y tế ở địa phương được quản lý theo ngành”. Để thực hiện điều này, Chính phủ cần nghiên cứu tổ chức thí điểm, tổng kết để trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp theo hướng giao cho sở y tế tỉnh, thành phố thống nhất quản lý về chuyên môn, nhân lực và tài chính y tế, bảo đảm cho việc điều động, điều tiết nguồn lực (gồm cán bộ y tế, cơ sở, trang thiết bị, tài chính) tại địa phương phù hợp với nhiệm vụ trọng tâm và các mục tiêu ưu tiên, đặc biệt huy động và phối hợp được các lực lượng trong trường hợp phòng chống dịch bệnh, khắc phục thảm họa, thiên tai và bảo đảm sự điều hành có hiệu quả các nguồn tài chính, nhân lực đầu tư cho y tế, đi đôi với việc tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp y tế.

II. Kết luận số 43-KL/TW

Bộ Chính trị cơ bản nhất trí với Báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban cán sự đảng Bộ Y tế về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW, 5 năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW, đồng thời lưu ý và nhấn mạnh một số điểm sau:

- Việc học tập Nghị quyết số 46-NQ/TW và Chỉ thị số 06-CT/TW được các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương triển khai nghiêm túc, nên đã tạo ra bước chuyển biến mới trong nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là vai trò và trách nhiệm lãnh đạo của các cấp ủy đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, do đó, đã đạt nhiều kết quả khả quan, một số kết quả đạt được tốt so với mục tiêu đề ra. Nhiều dịch bệnh được khống chế và đẩy lùi. Hệ thống y tế ngày càng được củng cố; hành lang pháp luật ngày càng được hoàn thiện; công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe nhân dân đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Quy mô và năng lực cung ứng dịch vụ của hệ thống y tế được nâng cao. Nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao đã được thực hiện làm cho trình độ kỹ thuật y tế của Việt Nam đang dần tiến bộ kịp với các nước tiên tiến trong khu vực. Người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế ngày càng dễ dàng hơn. Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho y tế ngày càng tăng và mức tăng hàng năm cao hơn mức tăng chung của tổng chi ngân sách. Bước đầu thực hiện đổi mới cơ cấu và cơ chế phân bổ ngân sách y tế.

- Tuy nhiên, trong những năm qua, việc thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW và Chỉ thị số 06-CT/TW vẫn còn những khuyết điểm, yếu kém; những bất cập, yếu kém nêu trong Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị chậm được khắc phục, có mặt còn trầm trọng hơn: Một là, việc triển khai tổ chức thực hiện chỉ thị, nghị quyết đối với các bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và một số tỉnh ủy, thành ủy còn chậm và chưa quyết liệt; việc thể chế hóa thành các chính sách, đề án, dự án cụ thể diễn ra muộn và tiến độ thực hiện chậm. Hai là, nhận thức về các quan điểm và một số giải pháp đã nêu trong Nghị quyết số 46-NQ/TW chưa đầy đủ và sâu sắc. Đặc biệt, quan điểm thứ năm của Nghị quyết số 46-NQ/TW “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” chưa được triển khai thành một nhóm chính sách tổng thể mang tính hệ thống. Ba là, mô hình tổ chức hệ thống y tế còn chưa phù hợp và không ổn định, nhất là hệ thống y tế cơ sở và y tế dự phòng. Bốn là, chưa có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với cán bộ, nhân viên y tế. Đội ngũ cán bộ y tế hiện nay đang rất thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, cơ cấu và phân bổ chưa hợp lý giữa các lĩnh vực, các vùng, miền; biểu hiện xuống cấp về đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ, nhân viên ngành y tế vẫn chưa được ngăn chặn và khắc phục triệt để. Năm là, kiểm tra, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm còn yếu; quản lý cơ sở y tế ngoài công lập, quản lý thuốc chưa thật chặt chẽ. Tổng đầu tư cho y tế còn thấp so với nhu cầu đặt ra trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân (chỉ chiếm bình quân/năm là 2,4% so với GDP); diện bao phủ bảo hiểm y tế vẫn còn ở mức thấp, khả năng cân bằng quỹ bảo hiểm y tế yếu; tỷ trọng ngân sách y tế từ nguồn người dân chi trả trực tiếp khi sử dụng các dịch vụ y tế so với tổng ngân sách chi tiêu y tế vẫn ở mức cao (trên 60%). Sáu là, xã hội hóa y tế chưa đáp ứng được nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Bảy là, công tác thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi sức khỏe đã có đổi mới bước đầu, song chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế dự phòng, an toàn vệ sinh thực phẩm.

- Có những nguyên nhân chủ quan và khách quan của các khuyết điểm, yếu kém trên, song nguyên nhân cơ bản là do một số cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; một số cán bộ, đảng viên chưa nhận thức một cách đầy đủ 5 quan điểm của Đảng về công tác chăm sóc sức khỏe, chưa hiểu biết một cách đầy đủ những đặc điểm về quản lý y tế. Một số cấp ủy đảng, chính quyền và một bộ phận nhân dân còn trông chờ và ỷ lại vào bao cấp của Nhà nước. Ngành y tế chậm đổi mới cải cách hành chính, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy để nâng cao hiệu quả của nguồn lực.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 46-NQ/TW và Chỉ thị số 06-CT/TW, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể chính trị – xã hội và toàn xã hội tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện đầy đủ và tích cực hơn nữa 5 quan điểm của Đảng về công tác y tế, các mục tiêu và 7 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đã được đề ra trong Nghị quyết số 46-NQ/TW. Trước mắt, cần tập trung vào một số điểm sau:

- Tổ chức sắp xếp hệ thống y tế công, đặc biệt là y tế cơ sở, tạo ra mô hình hợp lý và ổn định dựa trên quản lý theo ngành đối với y tế địa phương (từ tuyến tỉnh trở xuống). Ngoài ra, trước mắt cần cho phép vận dụng làm thí điểm mô hình y tế cơ sở theo Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của liên bộ Nội vụ và Y tế. Sau đó tiến hành tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm để có kiến nghị, điều chỉnh cho phù hợp. Đổi mới cơ chế hoạt động, quản lý về tài chính, nhân lực của các cơ sở y tế công, từng bước áp dụng các công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng và bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhằm khuyến khích phát triển và mở rộng các cơ sở y tế tư nhân.

- Tích cực chỉ đạo và thực hiện nghiêm các chính sách đối với người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người già, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội; vận động và hỗ trợ người cận nghèo mua thẻ bảo hiểm y tế; quan tâm đến sức khỏe người lao động, đặc biệt là công nhân tại các khu công nghiệp; y tế trường học.

- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương trong quản lý nhà nước về y tế; cải cách mạnh mẽ thủ tục khám bệnh, chữa bệnh nhằm giảm phiền hà cho nhân dân; tăng cường quản lý nhà nước đối với bảo hiểm y tế; tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về quản lý giá thuốc, quản lý hành nghề y dược tư nhân; quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao y đức và trách nhiệm của cán bộ y tế, xử lý nghiêm minh và các vi phạm pháp luật về y tế.

- Cơ cấu lại nguồn tài chính cho y tế để tiến đến nguồn tài chính công (ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế) chiếm một tỷ trọng cao (ít nhất là trên 50%) trong tổng ngân sách chi tiêu y tế từ tất cả các nguồn; ưu tiên sử dụng ngân sách nhà nước cho y tế dự phòng, đầu tư cải tạo, nâng cấp các cơ sở y tế, đặc biệt là các vùng khó khăn; tiếp tục chuyển việc đầu tư trực tiếp ngân sách nhà nước cho các cơ sở dịch vụ công sang đầu tư trực tiếp cho người hưởng dịch vụ bằng cách mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người có công với cách mạng, người tàn tật và rủi ro về sức khỏe, hỗ trợ việc mua thẻ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo; đẩy nhanh tiến độ thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, từng bước tiến đến bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân, nâng cao chất lượng và hiệu quả khám chữa bệnh cho các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế; đổi mới chính sách viện phí trên cơ sở tính đúng, tính đủ chi phí phục vụ người bệnh. Ban hành các chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác y tế, đồng thời không ngừng đổi mới cơ chế tiền lương cho cán bộ y tế theo hướng được hưởng như giáo viên.

- Triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác thông tin, giáo dục, truyền thông, thay đổi hành vi về chăm sóc sức khỏe, chính sách pháp luật, các chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tăng cường sự chỉ đạo của ban tuyên giáo các cấp trong việc phối hợp các ban, ngành, đoàn thể trong công tác thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn.

T/M Bộ Chính trị

Trương Tấn Sang

* Đầu đề do tòa soạn đặt

Chia sẻ: Email Print 0Bình luận »

Gửi bình luận của bạn

Tổng biên tập: TTƯT.BS.Trần Sĩ Tuấn