Đường dây tiếp nhận những thông tin bất cập trong ngành Y
duongdaynongyte@gmail.com
19009095

Cập nhật 10:30 ngày 28/06/2011

Viêm vùng chậu

Ngày 28 tháng 6, 2011 | 10:30

Viêm vùng chậu (VVC) là bệnh lý phụ khoa thường gặp ở nữ giới trong tuổi sinh đẻ. Đây là một hội chứng lâm sàng gây nên bởi tình trạng nhiễm trùng của tử cung, tai vòi, buồng trứng, phúc mạc chậu và các cơ quan lân cận.

Viêm vùng chậu (VVC) là bệnh lý phụ khoa thường gặp ở nữ giới trong tuổi sinh đẻ. Đây là một hội chứng lâm sàng gây nên bởi tình trạng nhiễm trùng của tử cung, tai vòi, buồng trứng, phúc mạc chậu và các cơ quan lân cận. Phần lớn các trường hợp VVC là do sự phát tán một tình trạng nhiễm trùng trước đó ở âm đạo, cổ tử cung.

Những yếu tố nguy cơ và nguyên nhân

Các yếu tố nguy cơ gây nên VVC bao gồm: phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, có quan hệ sớm và quan hệ với nhiều bạn tình, đã có tiền căn viêm cổ tử cung nhầy mủ điều trị không triệt để, tái phát nhiều lần. Ngoài ra các thủ thuật nạo hút thai, các thủ thuật trên âm đạo, cổ tử cung, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây bệnh. Đa số trường hợp mà nguyên nhân gây bệnh là những loại vi khuẩn lây lan qua đường tình dục như neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp nguyên nhân gây bệnh có thể do các loại vi khuẩn khác có mặt trong âm đạo như gardnerella vaginalis, haemophilus influenzae, mycoplasma hominis, ureaplasma urealyticum Group A streptococci, Peumococci và các loại trực trùng trong đường ruột.

 Quan hệ một vợ một chồng là cách tốt nhất để tránh các bệnh viêm nhiễm qua đường tình dục dẫn đến viêm vùng chậu
Các dấu hiệu nhận biết

Tùy theo tác nhân gây bệnh, mức độ nhiễm trùng và khả năng đề kháng của cơ thể mà các dấu hiệu nhận biết trên lâm sàng trong VVC rất đa dạng từ người này sang người khác. Triệu chứng ban đầu chỉ là một cảm giác trằn nhẹ vùng bụng dưới, trường hợp này ta xếp vào nhóm mức độ nhẹ. Trường hợp nặng, người bệnh than đau vùng bụng dưới, đau từng cơn hay đau âm ỉ, huyết trắng âm đạo ra nhiều hơn và nặng mùi kèm thay đổi màu sắc huyết trắng, màu xanh hay màu vàng. Dấu hiệu sốt trên 38oC, ớn lạnh toàn thân, người mệt. Khi quan hệ, cảm giác đau nhiều, đau nhiều hơn khi ấn vào hạ vị.

Việc xác định VVC dựa vào các triệu chứng sau: đau vùng bụng dưới, đau khi lắc cổ tử cung lúc thăm khám âm đạo và đau khi khám 2 phần phụ (gồm vòi trứng, buồng trứng, hai bên phải và trái). Ngoài ra, xét nghiệm máu, bạch cầu tăng trên 10.000 mm

Diễn tiến của bệnh

Trong những trường hợp VVC không được điều trị hoặc điều trị không đúng mức có thể gây áp-xe vùng chậu, thường là khối áp-xe ở tai vòi buồng trứng, nhưng một số ít trường hợp khác có thể là khối áp-xe ở ruột non, ruột già hay ruột thừa. Khối áp-xe có thể vỡ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc.

Một số trường hợp VVC để lại di chứng đau vùng chậu mạn tính dai dẳng nguyên do vi khuẩn neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis đều có phân tử có khả năng kết dính với các receptors của tế bào biểu mô đường sinh dục, đồng thời chúng tiết nội độc tố làm tổn thương hàng loạt lông chuyển của nội mạc vòi trứng gây ra xơ dính làm ảnh hưởng sự thụ thai của người bệnh đưa đến vô sinh và dễ biến chứng bị thai ngoài tử cung về sau.

Điều trị

Việc điều trị viêm VVC chủ yếu là điều trị nội khoa với kháng sinh phổ rộng thích hợp, cần thiết điều trị sớm và liên tục có cơ may tránh được di chứng về sau của VVC. Tất cả các phác đồ điều trị phải hiệu quả đối với cả neisseria gonorrheae lẫn chlamydia trachomatis. Đối với các thể bệnh nhẹ, có thể điều trị tại nhà. Tuy nhiên với các thể bệnh nặng cần phải nhập viện điều trị. Tiêu chuẩn điều trị nội trú tại bệnh viện bao gồm các tình huống sau: người bệnh trẻ dưới 18 tuổi, khi xác định VVC mà chưa loại trừ các bệnh lý ngoại khoa khác như bệnh viêm ruột thừa; người bệnh đang mang thai; người bệnh điều trị ngoại trú không đạt kết quả, có kèm sốt cao 39oC hoặc xét nghiệm máu bạch cầu tăng 15.000mm3 và thăm khám bụng và âm đạo có khối áp-xe phần phụ.

Thuốc điều trị điều trị ngoại trú tại nhà đối với thể nhẹ: ofloxacin 400mg phối hợp flagyl 500mg, dùng liên tục 14 ngày hoặc cifixim 400mg phối hợp doxycyclin 100mg và flagyl 500mg, dùng liên tục 14 ngày. Cần kết hợp thuốc giảm đau, trợ sức, chế độ nghỉ ngơi và chế độ dinh dưỡng đầy đủ.

Thuốc điều trị nội trú, việc sử dụng thuốc kháng sinh toàn thân liều cao cần theo sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Kết hợp giảm đau, hạ sốt, bù nước điện giải và nâng sức đề kháng cơ thể.

Trường hợp có biến chứng áp-xe vòi trứng và dùng thuốc kháng sinh không đáp ứng phải phẫu thuật cắt bỏ khối áp-xe và dẫn lưu ổ bụng.

Dự phòng

Phần lớn các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục nói chung và VVC nói riêng lây lan qua đường tình dục tùy thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, kinh tế, xã hội. Vì vậy, để dự phòng các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục cần thiết lưu ý đến một số các biện pháp sau:

- Tuyên truyền giáo dục và thông tin y tế, nhất là đối tượng thanh thiếu niên về những nguy hiểm của các bệnh lý lây qua đường tình dục.

- Đề cao nền tảng gia đình, tuyên truyền đời sống một vợ một chồng. Đây là cách tốt nhất để phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục.

- Đối với các quan hệ nghi ngờ, phải biết cách phòng bệnh cho mình và cho người tiếp xúc. Sử dụng bao cao su là phương pháp hữu hiệu nhất.

- Phụ nữ khi sử dụng, thuốc rửa phụ khoa phải đúng cách, theo sự chỉ dẫn trên mỗi chai thuốc rửa, lưu ý không thụt rửa vào âm đạo mà chỉ rửa vùng âm hộ mà thôi, việc thụt rửa vào trong âm đạo sẽ làm xáo trộn môi trường âm đạo tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn gây hại phát triển gây nhiễm khuẩn âm đạo. Khi có huyết trắng bất thường cần đến cơ sở chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị đúng cách, không nên tự ý đặt thuốc âm đạo.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN
 
Chia sẻ: Email Print 0Bình luận »

Gửi bình luận của bạn

Tổng biên tập: TTƯT.BS.Trần Sĩ Tuấn