Rừng đã thay men!

Suckhoedoisong.vn - Tôi đến bon B’Kẻh, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng trên nền giai điệu những bước chân trần hoang phiêu thẳm gió,

dự định sẽ kiếm một ngôi nhà dài nào đó để được bập bùng bên ánh lửa và ngả nghiêng say bên những ché rượu cần dài tít tắp, cùng tiếng chiêng ngân, tiếng hát đối, hát ru trầm bổng cho thỏa. Thế mà rốt cuộc tôi lại ngồi hiu hắt lặng nghe câu chuyện u hoài của người già, kể về sự thiếu vắng hơi thở đại ngàn trong đời sống đương đại.

Chiều muộn. Bon B’Kẻh chỉ còn lưa thưa vài sợi nắng đang lảng vảng trên những ngọn đồi. Lũ làng bắt đầu dậm dịch bên nhau, quây quần chuẩn bị cho bữa cơm chiều. Tôi ngồi xuống cạnh bà Ka Sệp, nghệ nhân chế biến rượu cần ở bon B’Kẻh, trong căn nhà dài mong tìm chút niềm vui đơn sơ nơi những tâm hồn người Mạ mộc mạc, chân chất, sống cuộc đời thản nhiên, bình dị cùng tự nhiên, hòa lẫn vào tự nhiên và sáng tạo ra những dạng thức văn hóa đặc hữu giữa thăm thẳm ngàn trùng, song niềm vui nhỏ nhoi ấy đã không thành. Thậm chí, nó còn bị mất đi cùng với nét xưa của lũ làng. Ngôi nhà dài của bà Ka Sệp vẫn còn đó những chiếc ché cổ, đủ các kích cỡ lớn nhỏ khác nhau, nhưng thi thoảng mới được dùng để ủ rượu. Bếp lửa vẫn còn, chỉ có điều thay vì cháy sáng suốt đêm như trước kia, thì nay rất hiếm khi đỏ lửa. Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi này, theo các nhà folklore học là do phương thức sản xuất và hình thái kinh tế của dân bon đã thay đổi. Cùng với đó, là sự biến đổi trong đời sống, sinh hoạt, văn hóa, tín ngưỡng của cư dân bản địa cũng là những yếu tố cơ bản tạo nên sự thay đổi trên. “Bây giờ, dân bon sống hiện đại lắm. Ngày cưới, cô dâu nào cũng mặc áo xống xênh xang như Tây và chú rể thì complé, cravate cáu cạnh chẳng kém!”, bà Ka Sệp chua chát.

Biết tôi có ý định tìm hiểu về quy trình làm men và cách ủ rượu cần, bà Ka Sệp chép miệng: “Lâu nay, ở bon B’Kẻh, nhiều nhà vẫn sử dụng viên men khô của Trung Quốc để ủ rượu cần, thành thử chất lượng rượu không đảm bảo, uống vào thường sốc và dễ bị nhức đầu. Nhưng…”, bà ngập ngừng, “... không thế cũng chả được! Bởi, muốn có men rượu cần chính thống, phải vào tận rừng sâu của Lộc Lâm, Lộc Bảo, những xã xa xôi và khó khăn nhất của huyện Bảo Lâm, may ra mới kiếm được lá rờ hộch, loại lá mà người Mạ xưa nay vẫn thường dùng để làm men rượu. Chứ ở Lộc Ngãi tìm đâu ra lá rờ hộch!”.

Rừng đã thay men!Những chiếc ché từng được dùng để ủ rượu cần, giờ chỉ còn là hoài niệm.

Tôi gật đầu xác nhận.

K’Ngân, con rể bà Ka Sệp, đế thêm: “Bọn trẻ người Mạ bây giờ chỉ thích uống bia hoặc rượu đế. Ít người còn chú ý đến rượu cần truyền thống của dân tộc mình”. K’Ngân còn cho biết: “Trong số hơn 300 gia đình là người Mạ sinh sống tại bon B’Kẻh, số người biết và còn làm rượu cần chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhưng nếu có ủ rượu cần thì người dân nơi đây cũng chỉ toàn sử dụng viên men khô Trung Quốc không à!”. “Chẳng còn lâu nữa đâu, số người biết bí quyết làm men rượu cần bằng lá rừng sẽ không còn nữa. Rượu cần lúc đó chỉ còn là… rượu lậu. Tôi cũng tiếc truyền thống của ông bà chớ, nhưng đành chịu, chẳng thể làm được gì. Thế giới đang phẳng mà!”, Ka Thủy, con gái bà Ka Sệp, vợ của K’Ngân thở dài.

Tôi nhìn sang bà Ka Sệp, xem bà phản ứng thế nào trước ý kiến của con trẻ, thì thấy bà đang ngồi bất động. Hình như bà Ka Sệp nghĩ ngợi gì mông lung lắm. Rồi chẳng hiểu sao, như chợt nhớ lại những tháng ngày vàng son, bà hào hứng hẳn lên: “Ngày xưa, mỗi khi dân bon mở hội, lễ vật nhất thiết phải là những ché rượu cần ủ lâu ngày ngon nhất làng trên, bon dưới dâng lên Yàng (thần linh). Cùng với cây nêu, tiếng chiêng thiêng, con vật hiến tế, ché rượu cần là thứ không thể thay thế trong nghi thức cúng Yàng”. Bà Ka Sệp tiếp: “Rượu cần nguyên thủy có vị ngọt sâu, hương thơm đằm, mang đúng đặc trưng núi rừng. Tuy hơi cao độ, nhưng khi uống lại rất êm và làm người uống hưng phấn”.

Câu chuyện bất ngờ xoay sang một hướng khác, không còn nặng nề, u uẩn nữa. Ka Thủy tiếp lời mẹ bằng một làn điệu dân ca của người Mạ: “Ơ cau mút tẽh tăm hiu. Nhô tơnơm bơkă lă bơ sạp. Ơ cau mút tẽh tăm hiu. Nhô tơnơm bơkă lă bơ sạp. Nhô tơnơm ơi… ơi… ơi. Nhô tơnơm ơi… ơi… ơi. Nhô tơnơm bơkă lă bơ sạp. Di lă bơkă oh mi nhô. Di lă bơ sạp oh mi lời. Gió rơ nừng tịp tàng he de. Gió rơ nàng tịp tai he de. Wac tơ ngai tịp val he de”. Tạm dịch: “Người ơi, hãy vào trong nhà. Uống rượu cần, rượu ngon hay rượu lạt. Người ơi, hãy vào trong nhà. Uống rượu cần, rượu ngon hay rượu lạt. Uống rượu cần ơi… ơi… ơi. Uống rượu cần ơi… ơi… ơi. Nếu rượu ngon thì mời anh em uống. Nếu rượu lạt rồi thì anh em bỏ. Bây giờ là lúc để chúng ta sum họp. Nếu có phải chia tay thì một ngày nào đó chúng ta sẽ gặp lại. Một ngày nào đó chúng ta sẽ lại gặp nhau”.

Bà Ka Sệp nói: “Để có được loại rượu cần phẩm chất tốt, đòi hỏi phải có men tốt. Men chính là yếu tố quyết định”. Bởi vậy, từ đầu mùa khô, người Mạ khắp các bon đã rậm rịch tìm đến những con suối lớn để hái lá rờ hộch về làm men rượu. Những lá được chọn thường không quá già cũng không quá non. Rờ hộch được đưa về nhà phơi khô, tán nhỏ. Bên cạnh vị chính là lá rờ hộch, men làm rượu cần còn có thêm các vị khác như: bột ớt hiểm, bột riềng rừng, muối, lá dâu… tỷ lệ theo công thức gia truyền. Sau khi đã giã nhuyễn, rờ hộch được đem trộn đều với lá dâu, bột ớt hiểm, bột riềng rừng, bột gạo lúa mẹ, muối, nước và trấu, rồi vo lại thành từng viên nhỏ, tròn, dẹt, gác trên giàn bếp ấm hoặc phơi trong bóng râm, độ vài ngày cho viên men phồng to, áng chừng có thể ủ rượu được là xong. Men này mang bốn vị: đắng, chát, cay và ngọt. Lá rờ hộch cho vị đắng, ớt hiểm có vị cay nồng, riềng rừng mang vị chát hòa trong vị ngọt của bột gạo lúa mẹ. Đặc sắc của núi rừng là ở đấy! Bí truyền cũng ở đấy!

Công đoạn bào chế men rất quan trọng, vì nó quyết định phẩm chất rượu ngon hay không. Do đó, nghệ nhân ủ rượu cần phải tuân thủ nghiêm ngặt từ khâu chọn lá rờ hộch, ớt hiểm, riềng rừng cho đến công đoạn ủ men thủ công truyền thống, tỷ lệ men cho vào cơm rượu là bao nhiêu thì vừa. Tất cả những bí quyết này đều được nhiều đời ông bà truyền lại.

Men đã sẵn. Công việc tiếp theo là nấu cơm sao cho vừa mềm, vừa dẻo. Muốn có loại cơm rượu ngon, trước đó, phải chọn loại lúa mẹ ngon nhất, đem vào cối giã để loại bỏ lớp trấu. Rồi trải qua các công đoạn giần, sàng nữa thì mới mang gạo lúa mẹ nấu chín tới, tải ra nia, dàn đều, lúc còn ấm tay thì rắc men đã tán mịn, với một ít vỏ trấu lên mặt cơm để tạo độ thoáng và đảo thật đều. Tiếp đến, cho hỗn hợp cơm rượu này vào rổ tre ủ kỹ khoảng hai ngày (tùy thời tiết nóng hay lạnh) cho dậy men và ra nước mọng. Bấy giờ mới cho vào ché (sau khi ché đã được rửa sạch bằng nước sôi và đã đem phơi khô từ một đến hai hoặc ba nắng).

Bà Ka Sệp bật mí: “Có một việc hết sức quan trọng trong niềm tin của người Mạ, đó là chỉ được phép bỏ cơm rượu vào ché với điều kiện các thành viên trong gia đình đều đã có mặt đông đủ tại nhà. Vì người Mạ quan niệm, nếu thành viên nào đó của gia đình mình đang còn trên rẫy, chưa kịp về nhà mà đã ủ rượu, thành viên đó sẽ gặp những chuyện không may”.

Các nghi thức theo tín ngưỡng đã thực hiện xong, bấy giờ nghệ nhân chế biến rượu cần mới lấy hòn than đang cháy hồng trong bếp và gõ nhẹ vào thành ché cho than rớt vào trong, kèm theo một lời “bùa chú”, ý nói mong sao ché rượu cần sẽ nồng như hòn than đỏ. Dưới đáy ché là một lớp trấu mỏng cùng một ít lá cọ, lá mía và lá chuối khô, tiếp một lớp cơm rượu, rồi một lớp trấu… Cứ thế, cho đến khi đầy ché, thì dùng tro bếp hòa với nước làm thành cái nắp đậy. Sau đó, mang ché rượu để ở nơi khô thoáng và ấm, chừng một tháng đến một năm (tùy theo kích cỡ của ché) là dùng được.

“Tùy từng mục đích uống mà người Mạ có cách uống rượu cần riêng”, bà Ka Sệp giải thích, “Trong lễ cúng Yàng, người Mạ chỉ dùng một cần (hút). Còn trong tiếp khách quý hay bè bạn, người Mạ vẫn có thể dùng nhiều cần”. Qua lời kể của bà Ka Sệp, tôi mường tượng về một nghi thức uống rượu cần của người Mạ như sau: gia chủ khui ché rượu, đọc vài lời khấn Yàng, xin Yàng mang đến sức khỏe, niềm vui cho mọi người và bắt đầu cắm cần vào ché, rồi tự mình uống trước một hơi rượu, kế theo sẽ nâng cần trao cho khách. Gia chủ tiếp tục trao cần cho những người còn lại, mỗi người một cần, nhưng uống theo thứ tự khách quý, người lớn tuổi uống trước. Mỗi lần đổi người uống, lại có một người đảm trách công việc châm nước suối vào ché. Chừng nào mọi người uống xong, đến lượt gia chủ uống cuối cùng thì nghi lễ rượu cần mới kết thúc.

Theo lời bà Ka Sệp, rượu cần đối với người Mạ không chỉ đơn thuần là rượu, mà cao hơn và xa hơn rượu. Rượu trở thành một triết lý sống, một nghi lễ văn hóa tâm linh, gắn kết dân bon cùng các thế lực siêu nhiên.

Tiếc thay, ở bon B’Kẻh, giờ tôi tìm hoài cũng chẳng thể nào thấy lửa rừng, lễ hội thì coi như tiệt hẳn, còn rượu cần đã được ủ bằng men Trung Quốc. Nhịp sống nơi miền sơn nguyên xa hút này đang thay đổi đến chóng mặt. Tôi có cảm giác loại hình văn hóa núi, giá trị đặc hữu mang thương hiệu Tây Nguyên, ngày càng đơn điệu và tẻ nhạt. Dân bon đang rời bỏ dần bản sắc, căn cốt trong lối sống lẫn cách ứng xử với tự nhiên. Do đó, nếu muốn tìm hiểu về folklore, chỉ còn cách lục lọi trong trí nhớ người già. Khổ nỗi, số người này ngày càng thưa vắng. Bất giác, Ka Thủy nhắc lại: “Thế giới đang phẳng mà!”. Tôi nghe mà lạnh người.

Đêm đại ngàn sâu lạnh. Trăng như gã mộng du xuống núi tha thẩn sáng. Cảnh vật thanh vắng, u tịch lạ. K’Ngân tiễn tôi ra đến đầu ngõ. Tôi rời bon B’Kẻh khi đêm và lũ làng đã vào giấc sâu. Phía bên kia ngọn đồi, ánh đèn nhà ai vẫn hiu hắt sáng, như một nỗi nhớ xa xôi đang mờ dần.

 

Nguyễn Thành Đồng

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Rừng đã thay men!

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT