Món ăn thuốc từ thông

SKĐS - Cây thông thường được chọn thể hiện cho ý chí, sự trường tồn vĩnh cửu bởi sức chịu đựng phi thường của nó trước mọi biến động thời tiết.

Cây thông thường được chọn thể hiện cho ý chí, sự trường tồn vĩnh cửu bởi sức chịu đựng phi thường của nó trước mọi biến động thời tiết. Trong đông y, từ lâu, các bộ phận của cây thông đã được dùng làm thức ăn và thuốc quý.

Nhân hạt thông (hải tùng tử) loại thông 5 lá

Món ăn trường xuân bất lão: nhân hạt thông 15g (rang kỹ), thịt gà ta 100g (thái nhỏ), thịt lợn nạc 100g thái nhỏ, trứng gà 2 quả rán chín, cà rốt 100g thái mỏng, đậu hoà tan 100g, gạo tẻ 200g, xì dầu rượu vàng, đường trắng, mì chính vừa đủ. Xào thịt gà, thịt lợn chín, cho cà rốt, đậu vào xào rồi cho nước, xì dầu, rượu, trứng đã rán, hạt thông đun 1 lúc cho mì chính. Nấu cơm gần chín cho món thập cẩm trên vào. Ăn vào bữa chính.

Bổ can thận, làm sáng mắt, nhuận da, thần kinh ổn định, ngủ ngon, khỏi hồi hộp lo âu…: hạt thông, câu kỷ, kim anh tử, mạch môn đông mỗi thứ 120g sắc 3 nước dồn lại để cô thành cao với 150g mật hoặc cô đặc nước trên, trừ hạt thông nghiền nát để cho vào cùng mật, sau cô tiếp thành cao. Uống ngày 2 lần, mỗi lần 2 thìa con với nước ấm.

Hoặc: nhân hạt thông, vừng đen, câu kỷ tử, cúc trắng mỗi thứ 9g, sắc uống ngày 1 lần.

Táo bón: nhân hạt thông, bá tử nhân, hoả ma nhân lượng bằng nhau. Nghiền bột làm viên. Mỗi lần uống khoảng 6g trước bữa ăn.

Ho lâu ngày, ít đờm: nhân hạt thông 30g, hạch đào 60g nghiền nát làm thành cao, trộn 15g mật. Mỗi lần uống 1 thìa với nước sôi để ấm. Ngày 2 lần. Dùng thường xuyên làm tinh thần sảng khoái, da tươi nhuận  hồng hào.

Bổ toàn thân tăng sinh lực, ăn ngon ngủ yên, da dẻ tươi nhuận hồng hào: nhân hạt thông, phục linh (nấm thông) mỗi thứ 500g. Nghiền thành bột, trộn mật ong nấu thành cao. Mỗi lần uống 2 thìa to (30ml) uống với một ít rượu ấm.

Quả thông chữa ho: quả thông 10g, lá hẹ 12g, lá kinh giới 12g thái nhỏ, sắc 400ml nước còn 1/3 chia uống 2 lần.

Hoa thông (tùng hoa) khu phong sáng mắt: Hái vào tháng 3 âm lịch 250g, chưng xong cắt nhỏ cho vào túi vải ngâm 2 lít rượu 5-7 ngày. Uống nóng trước bữa cơm.

Lá thông (tùng diệp):

Chữa cảm cúm đau mình: lá thông (10 - 30g) nấu xông.

Diên thọ tửu: tùng diệp 40g, câu kỷ tử 30g, hoàng tinh 30g, thiên môn 20g, thương truật 30g. Ngâm vào 3 lít rượu trong 7 ngày, hâm nóng khi uống trước bữa cơm.

Nhức mỏi cơ xương khớp, va đập bầm tím: lá thông băm nhỏ ngâm rượu để xoa bóp.

Ngứa, lở loét: lá thông, lá long não, lá khế, lá thanh hao lượng bằng nhau nấu nước để tắm rửa.

Đốt mắt thông (tùng tiết): lấy đốt mắt cành thông cạo vỏ lấy lõi phơi khô. Có vị đắng, tính ấm.

Giảm đau nhức, chữa tê thấp: lấy 20g sắc nước uống cùng các vị khác cùng công dụng.

Chữa đau nhức răng: tùng tiết thái nhỏ ngâm rượu càng đặc càng tốt, ngậm nghiêng phía răng đau 1 lúc rồi nhổ đi. Ngày vài lần.

Rễ thông (tùng căn) trừ phong hàn thấp gây đau lưng gối, liệt dương: rễ thông thái lát nhỏ 640g cửu chưng cửu sái (9 chưng 9 phơi khô), ngâm 2 lít rượu bịt kín. Sau 7-10 ngày dùng được. Khi uống, nên làm nóng, uống vào bữa ăn mỗi lần 1-2 chén con (30ml).

Nhựa thông chữa đau nhức khớp sưng tấy: nhựa thông 40g, nhựa cây sau sau 40g, sáp ong 10g, đun nhỏ lửa khoảng 10 phút. Để nguội, phết lên giấy để dán lên chỗ sưng.

Chữa nhọt mủ: nhựa thông vừa đủ với bồ hóng bếp củi, gai bồ kết, quả bồ hòn (đốt thành than) lượng bằng nhau, đánh nhuyễn thành dẻo quánh mềm để đắp lên nhọt nung mủ.

Tinh dầu thông (phần bay lên qua cất kéo hơi nước của nhựa thông đã tinh chế) chữa các bệnh ngoài da nhiễm khuẩn do tác dụng tiêu sưng, diệt khuẩn. Phối hợp với cồn long não, salixilat metyl làm thuốc xoa bóp chữa đau nhức.

Tùng hương (phần còn lại sau khi cất nhựa thông lấy tinh dầu): vị đắng ngọt, mùi thơm, tính ôn. Có tác dụng khu phong diệt khuẩn, sinh cơ, giảm đau, chữa mụn, nhọt, ghẻ lở. Dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị khác (hoàng liên, hoàng cầm, khổ sâm, sà sàng tử, đại hoàng, khô phàn…) để đắp lên mụn nhọt lâu ngày không khỏi.

Nấm thông: Có 2 loại: Phục linh là nấm mọc trên rễ thông và Phục thần là nấm mọc chung quanh rễ.

Phục linh đi vào tỳ thận là chính: công dụng lợi thuỷ trừ thấp, ích tỳ trừ tả, trấn tĩnh an thần.

Phục thần đi vào tâm là chính: dùng chữa mất ngủ, lo âu, hồi hộp, kinh sợ…

BS. Phó Thuần Hương

loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Món ăn thuốc từ thông

Click vào đây để gửi ngay bài viết về cho toà soạn.