Kỹ thuật xâm lấn tối thiểu hiện đại trong điều trị ung thư: “Kẻ đến muộn về đích trước”

SKĐS - Cùng với sự hoàn thiện không ngừng của các phương pháp điều trị, sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh cùng sự vượt trội của các khái niệm lý luận điều trị tổng hợp; điều trị can thiệp xâm lấn tối thiểu hiện đang nắm giữ vai trò ngày càng quan trọng trong điều trị khối u ác tính.

"Kẻ đến muộn"

Năm 1953, nhà khoa học Thụy Điển Seldinger hoàn chỉnh kỹ thuật đặt ống thông mạch máu (kỹ thuật Seldinger). Tuy nhiên, đến năm 70 của thế kỷ 20, kỹ thuật can thiệp xâm lấn tối thiểu mới được triển khia. Đến những năm 80, ngành y tế thế giới bắt đầu tiến hành kỹ thuật nội soi tạng rỗng và nội soi ổ bụng.  Đến những năm 90 của thế kỷ 20, y học xâm lấn tối thiểu bắt đầu tiếp cận được với điều trị ung bướu tại nhiều chuyên khoa. Và đến những năm 2000, kỹ thuật này được thực hiện với nhiệm vụ tiêu hủy khối u và điều trị cấy hạt phóng xạ. Đến đầu thế kỷ 21, sự phát triển của kỹ thuật điều trị xâm lấn tối thiểu đã dần gây ảnh hưởng sâu rộng tới sự thay đổi trong mô hình điều trị ung bướu truyền thống.

Những phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu ung bướu bao gồm: Điều trị xâm lấn tối thiểu DSA; Điều trị xâm lấn tối thiểu CT; Điều trị xâm lấn tối thiểu MRI; Siêu âm hội tụ (HIFU); Cấy hạt phóng xạ vào tổ chức tế bào; Điều trị tiêu hủy khối u; Điều trị quang động lực; Điều trị vi sóng; Dao Nano; Điều trị nội soi xâm lấn tối thiểu, Dao Ar-He...

Với sự hướng dẫn của các thiết bị chẩn đoán hình ảnh, hợp nhất cùng với các kỹ thuật hình ảnh y học, điều trị bằng thuốc, kỹ thuật gen sinh học tiên tiến với các công nghệ cao khác như xạ tần, laser, siêu âm hội tụ, nội soi; điều trị xâm lấn tối thiểu ung bướu được coi là phương pháp điều trị khối u hiện đại với ưu định vị chính xác, điều trị chuẩn xác, vết thương nhỏ, ít đau đớn.

Giáo sư Trương Phúc Quân – Chuyên gia đầu ngành Khoa Ung bướu xâm lấn tối thiểu của Bệnh viện Ung thư St.Stamford hiện đại Quảng Châu cho biết điều trị xâm lấn tối thiểu ung bướu có thể tạo ra sự tổn hại lớn nhất tới tế bào ung thư, đồng thời bảo vệ tối đa chức năng bình thường của cơ thể và hệ thống miễn dịch. Các bác sĩ, dựa trên kinh nghiệm của mình và bệnh án thực tế của bệnh nhân, có thể kết hợp các phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu với nhau nhằm nâng cao hiệu quả điều trị tối đa cho bệnh nhân.

Một số phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu ung bướu thông dụng:

  • Dao Nano: là kỹ thuật hiện đại đỉnh cao tiêu hủy ung bướu, bắt nguồn từ kỹ thuật IRE, thông qua đó đầu dò kim giải phóng xung điện cao áp kích thủng màng của tế bào ung thư, hình thành nhiều lỗ hổng kích thước nano với dòng điện không đảo chiều, phá vỡ sự cân bằng của tế bào, khiến tế bào có thể bị tiêu diệt. Với ưu thế này, dao nano thường được sử dụng đối với các khối u nằm ở vị trí nguy hiểm như gần mạch máu lớn, gần ống mật, ống tụy, tĩnh mạch gan, những khối u quanh đốt sống hoặc khối u tuyến tiền liệt...
  • Dao Ar-He: Là một loại thiết bị điều trị xâm lấn tối thiểu đông lạnh tiêu hủy khối u. Dao Ar-He thông qua hướng dẫn hình ảnh của CT hoặc siêu âm, dùng kìm siêu mỏng đặc biệt xuyên vào tổ chức bị ung thư, sau khi chạm vào ổ bệnh, thông qua chuyển đổi khí Argon và khí Heli, chỉ trong vài phút, tổ chức ung thư sẽ bị đông lạnh thành “quả cầu băng”, nhiệt độ  khu vực ổ bệnh hạ thấp xuống thành -160 độ C nhằm phá vỡ và hủy hoại tế bào ung thư. Dao Ar-He điều trị phạm vi rộng, hầu hết các khối u thực thể đều có thể tiếp cận phương pháp này.

  • Cấy hạt phóng xạ: Đây là kỹ thuật cấy trực tiếp nguồn phát phóng xạ vào trong khối u, khiến cho tế bào ung thư đang hoạt động bị ức chế và tiêu hủy, từ đó khiến cục bộ khối u được khống chế mà tối thiểu được ảnh hưởng tới các tổ chức cơ thể khác. Kỹ thuật này thường được áp dụng trong việc điều trị các bệnh ung thư nguyên phát và các khối u đã di căn. Tỏ ra hiệu quả đối với các khu u thực thể như u ở vùng đầu cổ, ung thư vú, ung thứ tiền liệt tuyến, ung thư phổi, ung thư gan, ung thư thận, ung thư cổ tử cung....

  • Liệu pháp vi sóng: là kỹ thuật thông qua các thiết bị hình ảnh như siêu âm, CT, MRI, đưa kim vi sóng đâm xuyên da đưa thẳng vào khối u thực thể, phóng ra vi sóng khiến các phân tử cực tính trong tổ chức khối u đưới tác dụng trường vi sóng chuyển động cực nhanh sản sinh nhiệt lượng, khi nhiệt độ lên tới trên 60 độ C, protein tế bào ung thư có thể bị biến chất động đặc lại, dẫn tới hoạt tử không phục hồi. Kỹ thuật này thường được áp dụng đối với ung thư nguyên phát có các khối u thực thể không thể phẫu thuật ngoại khoa bình thường, nút mạch không hiệu quả như ung thư gan, ung thư phổi, ung thư tuyến giáp, ung thư vú, ung thư xương, ưng thư tử cung, ung thư tuyến tụy, ung thư thận....

Hà Anh

loading...
Bình luận

Click vào đây để gửi ngay bài viết về cho toà soạn.