Kiểm soát xơ vữa động mạch Hạn chế tử vong và tàn phế

SKĐS - Vữa xơ động mạch (VXĐM) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế. Vai trò của vữa xơ động mạch đã được xác định trong các bệnh lý về tim mạch...

Vữa xơ động mạch (VXĐM) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế. Vai trò của vữa xơ động mạch đã được xác định trong các bệnh lý về tim mạch (thiếu máu cơ tim cục bộ, tăng huyết áp, phồng bóc tách quai động mạch chủ), bệnh đột quỵ não, nhồi máu phổi và bệnh động mạch ngoại vi... Vữa xơ động mạch có cơ chế bệnh sinh rất phức tạp, bệnh tiến triển liên tục và thầm lặng, chịu tác động của nhiều yếu tố nguy cơ, tuy nhiên những yếu tố này đa phần đều có thể thay đổi được. Việc điều chỉnh và chế áp các yếu tố nguy cơ góp phần làm giảm tiến trình VXĐM và phòng tránh được các biến chứng của nó gây ra.

Cho tới nay, người ta chưa xác định chính xác nguyên nhân gây VXĐM. Tuy nhiên có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh được phát hiện như: tuổi, giới tính, chủng tộc, di truyền; tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá, thừa cân, giảm vận động thể lực... Trong những năm gần đây, khoa học đã phát hiện thêm yếu tố nguy cơ mới gây VXĐM, đó là tăng nồng độ homocystein máu, giảm nồng độ acid folic, tăng nồng độ yếu tố gây viêm CRP (C-Reactive Protein) và tăng fibrinogen máu.

Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được

Tăng huyết áp: Tăng huyết áp là một bệnh đang lưu hành rộng rãi trong cộng đồng (25 - 40%) và làm tăng nguyên cơ bị các biến chứng đột quỵ não và bệnh tim mạch lên 3 - 5 lần. Điều tra trong cộng đồng cho thấy tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp khoảng 20% ở tuổi 50; 30% tuổi 60; 40% tuổi 70; 55% tuổi 80 và 60% ở độ tuổi 90. Khoảng 50 triệu người Mỹ có tăng huyết áp. Hiệu quả của điều trị chống tăng huyết áp đã được nhiều thử nghiệm lâm sàng công bố là rất tốt. Tổng hợp 17 thử nghiệm điều trị tăng huyết áp khắp thế giới với 50.000 bệnh nhân tham gia, kết quả cho thấy giảm được 38% tất cả các thể đột quỵ và giảm 40% tử vong do đột quỵ. Trong điều trị tăng HA, nếu HA tâm thu giảm 10mmHg sẽ giảm 35 - 40% đột quỵ não.

Bệnh đái tháo đường: Bệnh gây rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và vữa xơ các động mạch lớn và nhỏ, gây nhiều biến chứng về tim mạch và đột quỵ não.

Rối loạn lipid máu: Nồng độ cao trong huyết thanh của lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-cholesterol), nồng độ thấp của hoạt động lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-cholesterol). Khi tăng nồng độ cholesterol >6,2mmol/l làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột quỵ lên 1,8 - 2,6 lần.

Hút thuốc lá: Có mối liên quan trực tiếp giữa số lượng thuốc lá, hút thường xuyên quá nhiều với nguy cơ bệnh tim mạch, thể hiện qua sự giảm HDL-cholesterol, tăng nồng độ LDL-cholesterol và co mạch. Tỷ lệ người hút thuốc lá chiếm 25% và làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch gấp 1,5 lần.

C-reactive protein (CRP): Nồng độ CRP tăng cao trong máu là nguy cơ cho bệnh VXĐM và nhồi máu cơ tim. Tăng nồng độ CRP là dấu hiệu viêm trong cơ thể. Tổn thương nội mạc động mạch dường như kích hoạt và làm phát triển mảng bám (plaque).

Thiếu vitamin B6, B12 và acid folic: Khi thiếu các chất này gây tăng homocystein máu, từ đó làm tăng tổn thương nội mạc động mạch, phát động tiến trình VXĐM. Các nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ tăng homocystein máu trên 15µmol/l gặp 20 - 40% và làm tăng nguy cơ tai biến tim mạch và não gấp 3 - 5 lần.

Các yếu tố nguy cơ ít hoặc không chắc chắn

Đây là các yếu tố có tầm quan trọng thấp hơn, không chắc chắn: Béo phì: béo phì trung tâm đặc biệt, còn được gọi là béo bụng. Theo nghiên cứu của Griffith RW, tỷ lệ béo phì là 18% và làm tăng nguy cơ bị đột quỵ não lên 1,8 - 2,4 lần; tăng đông máu; thiếu estrogen sau mãn kinh; lượng carbohydrate cao; nồng độ cao triglycerides; nồng độ cao của acid uric; nồng độ fibrinogen trong huyết thanh cao; cường giáp tuyến; nồng độ insulin huyết thanh. Ngoài ra, chứng ngừng thở khi ngủ có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, đái tháo đường, thậm chí nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ; nhiễm khuẩn Chlamydia pneumoniae; ô nhiễm không khí, hạt mịn, có liên quan đến sự dày lên của động mạch cảnh.

Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được

Tuổi: VXĐM phát triển theo tuổi, chủ yếu trên 40 tuổi. Với nam giới thì nguy cơ VXĐM gia tăng sau 45 tuổi, còn với phụ nữ nguy cơ VXĐM gia tăng sau 55 tuổi.

Giới: Nam có khuynh hướng mắc bệnh nhiều hơn nữ. Sau thời kỳ mãn kinh, nữ có tỷ lệ mắc bệnh tương tự nam.

Tiền sử gia đình: Xơ vữa mạch thường gặp ở những thành viên cùng gia đình, tuy nhiên sự liên quan này chưa được biết rõ. Nguy cơ VXĐM tăng nếu bố hoặc anh trai bị bệnh tim trước 55 tuổi, hoặc nếu mẹ hoặc chị gái bị bệnh tim trước 65 tuổi.

Dự phòng để tránh biến chứng tim mạch, đột quỵ não

Các biện pháp không dùng thuốc có vai trò rất quan trọng, đó là một chế độ ăn uống và sinh hoạt khoa học: cần ăn nhạt, ăn giảm mỡ động vật, tăng dầu thực vật, nhiều rau xanh; tăng hoạt động thể lực, tránh thừa cân và béo phì; ngủ nghỉ hợp lý, nếp sống khoa học, tránh stress; không uống nhiều rượu bia, không hút thuốc lá.

Bổ sung các vitamin và dưỡng chất cần thiết: các vitamin A, E, C, caroten, coemzym Q10 có tác dụng chống ôxy hóa và giảm gốc tự do rất tốt. Các vitamin B6, B12 và acid folic giúp chống tổn thương nội mạc mạch máu do làm giảm homocystein máu.

Kiểm soát các bệnh mạn tính: tăng huyết áp, đưa mức huyết áp dưới 140/90mmHg; kiểm soát đái tháo đường (glucose máu<7,2mmol/l, HbA1c<7,0%); kiểm soát rối loạn mỡ máu (cholesterol<5,2mmol/l, HDL-cholesrerol>0,9mmol/l, LDL-cholesterol<3,9mmol/l và triglicerid <2,3mmol/l).

Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu: Nhóm thuốc này có tác dụng chống kết tập tiểu cầu ở nơi có tổn thương nội mạc động mạch, do đó ngăn không cho hình thành cục máu đông (huyết khối). Thường áp dụng cho những người có bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, xác định có mảng VXĐM bằng hình ảnh.

BSCKI. Nguyễn Văn Tuấn (Khoa Đột quỵ não - Bệnh viện 103)

 

loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com