Hồn quê Kẻ Gạ

SKĐS - Dân làng Phú Gia, phường Phú Thượng, Hà Nội vẫn chỉ nhận cái tên cúng cơm của mình là Kẻ Gạ. Xưa hoa đào đất Gạ này đẹp không kém hoa Nhật Tân ngay bên cạnh...

Dân làng Phú Gia, phường Phú Thượng, Hà Nội vẫn chỉ nhận cái tên cúng cơm của mình là Kẻ Gạ. Xưa hoa đào đất Gạ này đẹp không kém hoa Nhật Tân ngay bên cạnh, nhưng lại chả mấy ai khen, mà họ cho rằng Kẻ Gạ chỉ giỏi đồ xôi. Mấy đời nay rồi còn gì. Vậy dân gian mới có câu: “Làng Gạ có gốc cây đề. Có sông tắm mát có nghề nấu xôi”.

Thơm hương nếp cái hoa vàng

Sáng sớm mà đến phố Phú Gia mới thấy, các ngõ xóm tấp nập người chuẩn bị hàng xôi mang lên phố bán. Giờ làng đã lên phố, nhưng việc vẫn vậy, dậy từ hai, ba giờ sáng đồ xôi. Ai nấy vội vàng chằng thúng xôi lên xe rồi tất tả đi. Người thì cưỡi xe đạp. Người thì phóng xe máy. Cứ thế rong ruổi phố phường hoặc tìm đến chỗ đã cố định để mở hàng. Có tới hàng trăm người của làng mang xôi vào phố bán như thế. Cả dân tứ xứ đến đặt hàng xôi mang đi cũng vậy. Đạp xe rao khắp ngõ xóm trong nội thành. Xưa, người làng Gạ phải gánh xôi vào chợ trong thành từ tờ mờ sáng. Lại thêm chuyện, có lần mấy cô gái làng gánh xôi lên chợ, nhưng chưa đến giờ đồn lính Tây mở cửa vào thành, nên phải vạ vật ngồi chờ. Một cô gái buồn ngủ díp mắt vì phải dậy từ hai giờ sáng làm xôi vò, cô ta gối đầu lên quang gánh, thế là lịm đi trong cơn mơ, rồi vừa hát vừa rao: “Làng Gạ tôi ơi! Hương bay lên giời. Ai xôi!... ai xôi!...”. Mấy chú lính buồn cười thế là rủ nhau mua gần hết thúng xôi.

 

Các loại xôi ở Phú Gia.

Các loại xôi ở Phú Gia.

 

Gặp bà Công Thị Bội, hơn 70 tuổi, chúng tôi cũng được nghe lắm chuyện nếp thơm của làng Gạ. Hiện gia đình bà Bội có tới gần chục con cháu theo nghề của làng, nấu đủ các loại xôi. Nào xôi lạc, xôi vò, xôi đỗ, xôi gấc; rồi xôi ngô, xôi dừa, xôi xéo hạt sen... Có nhà còn làm cả bánh trôi, bánh dày, bánh dợm... Nhưng chủ yếu là nấu xôi mang lên phố bán. Nhà nào vớ được hợp đồng đám cưới hay ngày lễ hội thì tha hồ bận rộn. Có khi phải mời các nhà cùng hợp tác làm cho kịp. Khi chúng tôi hỏi có hàng xôi bán trên phố Bát Đàn, chỉ 5.000 đồng một gói, có phải người làng Gạ không. Bà gật đầu nói, dân làng Gạ đấy chứ còn ai nữa, rẻ nhưng phải ngon. Phải đích thị gạo nếp cái hoa vàng, hay nếp nhung mới dậy mùi hương. Bà nhấn mạnh rồi nói, khi gói xôi phải dùng lá sen, nếu không dùng lá chuối lá dong, nhưng phải sạch ăn càng thấy thơm. Quả là thú vị khi nghe chính người làng Gạ nói chuyện về niềm vui sớm hôm của người làng nấu xôi. Tình cờ gặp được bà Vinh và bà Tuyến, chúng tôi càng thấy sự kỹ lưỡng và lòng thơm thảo của dân làng Gạ với những nắm xôi của mình. Hạt xôi phải chín tới, sạch sẽ, óng dẻo và dậy hương nếp. Nếu ai gặp hàng bán từ 5-7 loại xôi, đều dẻo thơm như nhau, thì đích thị người làng Gạ.

Theo như bà Hồng, cán bộ phường Phú Thượng, làng Kẻ Gạ có hơn 500 gia đình làm nghề nấu xôi, với khoảng 1.000 người đi bán lẻ khắp các ngõ xóm, phố phường. Thôi thì đủ các loại hàng đặt, ngoài xôi ăn sáng còn xôi cỗ cưới, sinh nhật, tiệc chiêu đãi, kể cả xôi làm quà biếu... Mỗi ngày làng tiêu thụ từ 4-5 tấn gạo nếp cái hoa vàng và nếp nhung. Phố Phú Gia (tên mới của làng Gạ) giờ được gọi tên là phố Hương vì vậy, bởi suốt ngày đêm hơi của các chõ đồ xôi và hương của gạo nếp, đậu xanh ngập tràn xóm ngõ. Tấp nập trong hương thơm như mùi rượu nếp tỏa lan bâng khuâng lòng người. Phố đẹp như mơ với những ngôi nhà đang lần lượt dựng lên từ những gánh hàng xôi. Những gánh quà quê lên phố, trao đến tay mọi người vị ngọt thơm thảo từ tấm lòng người làng Gạ. Những lời rao nhẹ nhàng vang lên trong xóm ngõ thân thương và trở thành nỗi nhớ của bất kể ai nơi phố thị.

Mỗi lần Tết về làng lại mở cuộc thi nấu xôi tại đình Phú Gia. Nhiều gia đình nấu xôi ngon có tiếng đều cử con cháu ra tỉ thí. Mỗi nhà có một bí quyết riêng làm xôi thơm và ngon miệng. Họ đều tự hào về làng Gạ của mình, cùng nhau làm giàu từ món quà quê bao đời nay. Hình ảnh gói xôi lá sen của Phú Thượng luôn luôn hiện lên trên mọi tuyến đường phố chợ. Mênh mang với những tiếng rao ngọt ngào của gái làng Gạ, Hà Nội thêm nỗi mơ màng trong giai điệu phố mỗi ngày.

Hồn thơ chinh phụ

Còn có một câu chuyện cổ tích khác ở làng Gạ. Đó là cuộc tình của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ với tiến sĩ Nguyễn Kiều (1695-1771), người Kẻ Gạ. Khu mộ của vợ chồng bà được coi như một dấu ấn đặc biệt về lịch sử văn hóa làng. Người dân Kẻ Gạ luôn luôn nhớ mọi chuyện xảy ra cách đây hơn 300 năm. Họ kể rằng, cho dù lận đận trong đường đời, nhưng nữ sĩ Đoàn Thị Điểm vẫn chịu sống trong cảnh cô đơn. Hơn nữa, sau khi bố mất, đến người anh cũng bỏ vợ con ra đi, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm không còn nghĩ đến hạnh phúc của mình nữa. Đau khổ dồn dập cùng nỗi lo cơm áo đã làm nữ sĩ quên mất cuộc sống của riêng mình. Cùng với đó, sự cao quý, tài sắc hơn người của một cô nương trong một gia đình khoa bảng đã tạo nên một khoảng cách, đâu dễ gặp người, gặp duyên trên đường đời. Hầu như nhiều lời ngỏ trước đó của những người đàn ông giàu có hay quan chức đều không lay động được trái tim nữ sĩ. Thậm chí, nữ sĩ còn suýt bị cậu ruột của Chúa Trịnh Doanh bắt cóc về làm vợ. Hắn bí mật cho lính mang bộ áo cưới cô dâu đến ép nữ sĩ mặc rồi tổ chức cưới luôn. Nhưng có người báo tin, nữ sĩ đã bôi nhọ, trát bùn vào mặt giả dạng người nhà, một kẻ mò cua bắt ốc trốn đi mất. May mà thoát thân. Sau đó, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm nhận lời của Chúa Trịnh, vào cung dạy học để né tránh những kẻ không xứng đáng cứ đến cầu hôn. Đồng thời đó cũng là cách kiếm tiền đưa về nuôi mẹ và các cháu. Nhưng cũng chỉ được một thời gian, sự thối nát trong triều đã làm nữ sĩ cám cảnh và bỏ về quê.

 

Chùa Phú Gia.

Chùa Phú Gia.

 

Cuối cùng, nữ sĩ phải xa lánh sự đời. Bà rời quê Hưng Yên, đưa gia đình về vùng đất Chương Dương xa xôi ở phủ Thường Tín, mở trường dạy học. Khi ấy nữ sĩ đã bước sang tuổi 37, né tránh những mối lương duyên trớ trêu cuộc đời, chỉ mong dồn tâm sức dạy dỗ trò ngoan. Ngỡ như cuộc sống sẽ an bài nếu không có chuyện hết sức bất ngờ đến. Tâm hồn nữ sĩ chợt bị xáo động khi tiến sĩ Nguyễn Kiều, người làng Gạ cho người đến ngỏ ý cầu hôn, với những lời lẽ chân tình và nghiêm túc. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm nao lòng, vì đây quả là chính nhân quân tử mà bà hằng chờ đợi từ lâu. Bà chỉ mong gặp được người tâm giao hợp ý hợp tình về mọi phương diện, văn chương và học vấn. Giờ đây người đó đã đến, sau hàng chục năm ngóng đợi, cho dù tiến sĩ Nguyễn Kiều đã từng hai lần đò. Nhưng rồi những lo toan lại lấn át, bởi mẹ già và các cháu nhỏ dại, nữ sĩ chần chừ không dám nhận lời. Nhưng lần thứ hai, tiến sĩ Nguyễn Kiều cho người mang thư đến với lời ngỏ thiết tha, nhưng vẫn nhã nhặn, khiêm nhường: “Tôi rất bận việc quan, lại phải lo chuẩn bị lên đường, việc nhà không ai coi sóc và cai quản... Nếu Cô vui lòng đùm bọc nội trợ cho tôi thì thật là may mắn cho cả nhà tôi đó”. Nữ sĩ đọc thư hết sức cảm động, tuy vậy nghĩ đến gia cảnh của mình nên chưa dứt khoát. Nhưng mẹ già cùng các cháu đã lớn đều muốn nữ sĩ chấp nhận mối lương duyên muộn mằn này. Thế là nữ sĩ Đoàn Thị Điểm trở thành dâu làng Gạ. Đó là năm 1743. Nữ sĩ vừa tròn 38 tuổi.

Ngay tháng sau, quan Thị Lang, tiến sĩ Nguyễn Kiều lên đường đi sứ, sang Trung Hoa. Rồi thời cuộc rối ren, phu quân mới cưới ở lại nước ngoài đến ba năm trời. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm ở nhà, chăm sóc gia đình cùng 3 đứa con nhỏ của chồng hết mực chu đáo. Trong thời gian này, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm lại sống trong cô đơn và lòng dạ hoang mang không hiểu thế sự sẽ ra sao, khi chồng phải lưu vong nơi đất khách quê người. Đúng lúc đó, nhà thơ Đặng Trần Côn đưa cho bà xem tác phẩm Chinh phụ ngâm của ông mới viết bằng Hán văn. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đọc bị cuốn hút vì câu chuyện nàng chinh phụ mong chờ người thân trở về đúng với tâm trạng của mình. Thế là bà dịch bản Chinh phụ ngâm Hán văn sang thơ Nôm, với nỗi lòng tê tái và sâu nặng tình người. Lập tức, bản dịch này đã đưa nữ sĩ Đoàn Thị Điểm lên đỉnh cao trong nền văn học nước nhà.

Sau khi tiến sĩ Nguyễn Kiều đi sứ trở về đã đọc bản dịch Chinh phụ ngâm và hết sức bất ngờ với tài năng của vợ mình. Hai người lại hòa mình trong hạnh phúc gia đình và văn chương. Nhưng không ngờ bi kịch lại xảy ra khi tiến sĩ Nguyễn Kiều được vua thăng chức điều đi làm Tham Thị ở Nghệ An. Đi lần này, ông quyết đưa vợ đi để gần gũi, luôn hạnh phúc bên nhau. Nhưng không ngờ dọc đường đi, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm bị cảm nặng. Thật đúng là không nỗi đau nào dữ dội hơn, khi lời trăn trối cuối cùng của vợ vừa dứt, thì cũng là lúc tắt thở (năm 1748). Tiến sĩ Nguyễn Kiều khóc thương không dứt. Ông đã viết một bài văn tế đẫm nước mắt để tiễn vợ về cõi vĩnh hằng. Trong đó có đoạn than: “Đào chưa quả đã vội khô. Quế đang thơm mà đã rủi. Rừng sâu bể rộng, nàng hỡi đi đâu. Ngọc nát châu chìm, lòng tôi quặn nhớ”. Thật đúng là hồng nhan bạc mệnh.

Cảo thơm lần giở trước đèn

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã trở thành người Kẻ Gạ hơn ba trăm năm nay. Ngôi mộ vợ chồng bà luôn ngát hương, được chăm sóc hàng ngày. Hàng năm, người Kẻ Gạ thường tổ chức lễ hội tưởng nhớ tới tiến sĩ Nguyễn Kiều; bao giờ cũng thắp hương lễ phu nhân của ngài, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Tác phẩm Chinh phụ ngâm cùng những cuốn sách khác của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm xứng danh ở đỉnh cao văn học nước nhà và cũng là niềm tự hào của Kẻ Gạ. Mọi người luôn nhớ tới bà như người con mang dòng máu và hương đất làng Gạ, đảm đang, tài hoa.

Bài và ảnh: Cảnh Linh

Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Hồn quê Kẻ Gạ

Click vào đây để gửi ngay bài viết về cho toà soạn.

Thiếu máu não
ĐỌC NHIỀU NHẤT