Đường dây tiếp nhận những thông tin bất cập trong ngành Y
duongdaynongyte@gmail.com
19009095

Cập nhật 09:48 ngày 16/10/2008

Thuốc và hướng điều trị đột quỵ não hiện nay

Ngày 16 tháng 10, 2008 | 09:48

Thuốc và hướng điều trị đột quỵ não hiện nay

Đột quỵ não là vấn đề thời sự về sức khỏe của các nước đang phát triển. 80% các rối loạn thần kinh trong một bệnh viện đa khoa là do bệnh mạch máu não, tai biến chủ yếu của bệnh mạch máu não là đột quỵ não.

Đột quỵ não là vấn đề thời sự về sức khỏe của các nước đang phát triển. 80% các rối loạn thần kinh trong một bệnh viện đa khoa là do bệnh mạch máu não, tai biến chủ yếu của bệnh mạch máu não là đột quỵ não.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tử vong do đột quỵ đứng hàng thứ hai sau bệnh tim, ở Mỹ đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và ung thư. Những người thoát khỏi tử vong thường để lại di chứng nặng nề cả về thể xác, tâm thần cũng như là gánh nặng cho gia đình và xã hội... Hội nghị đột quỵ châu Âu (1997) xác định “tàn phế do đột quỵ đứng hàng đầu trong các loại bệnh”.

Điều trị đột quỵ não phải đạt được mục đích “tránh tàn phế mà không gây tử vong”.

 Cấp cứu cho bệnh nhân bị đột quỵ não.
Điều trị tổng hợp

Điều chỉnh huyết áp (HA) tăng

- Như đã biết, vấn đề tuần hoàn máu là quan trọng đầu tiên, ở vùng này, mạch máu giãn tối đa do cơ chế bảo vệ tự động (thành mạch mất chức năng do thiếu ôxy, nhiễm toan). Bởi vậy, chỉ số bơm máu lên não phụ thuộc vào HA động mạch. Nếu HA bị hạ đột ngột hoặc bị hạ nhiều sẽ gây giảm áp lực bơm máu vùng tranh tối-tranh sáng, gây chết tế bào vĩnh viễn. Do vậy, huyết áp nên giữ ở mức cao hợp lý.

Điều chỉnh HA thấp:

Tìm và giải quyết nguyên nhân gây huyết áp thấp (thuốc, khối lượng thải ra, suy thất trái, bệnh thần kinh...).

- Cần ngừng, giảm các thuốc có thể là nguyên nhân gây hạ HA.

- Điều trị suy thất trái, thiếu máu.

- Loại bỏ lợi niệu và alpha-betablocker.

- Loại bỏ sự mất nước...

- Bù đủ khối lượng dịch, máu căn cứ theo các xét nghiệm.

Chống phù não

Phù não xuất hiện 3 giờ sau khi tắc mạch và tiến tới tối đa trong 24 giờ, tồn tại và lan tỏa trong 72 giờ. Chiến thuật chống phù não tích cực bao gồm:

- Kê đầu giường cao 25-30o.

- Hạn chế kích thích.

- Hạn chế dịch truyền.

- Tăng thông khí, PCO2 đạt 25-35 mmHg (ngay lập tức).

- Phẫu thuật giảm ép, dẫn lưu

- Dùng thuốc:

+ Manitol 20%, tiêm tĩnh mạch chậm trong 5-30 phút, nhắc lại sau mỗi 2-6 giờ (dùng ngay sau 30 phút).

+ Glyxerol 40%, mỗi 4 - 6 giờ, dùng sau khởi phát 8 - 12 giờ, dùng toàn bộ 24 - 48 giờ.

+ Lợi tiểu (furosemid) có thể cho với các tác nhân tăng thẩm thấu nhất là suy tim.

Khuyến cáo, không dùng glucoza dưới bất cứ hình thức nào trong đột quỵ.

Duy trì đường máu hợp lý: Các tác giả khuyên nên giữ glucoza máu ở mức < 160 - 180 mg% hoặc 5,5 - 8 mmol/lít.

Lưu thông đường thở ở các bệnh nhân có rối loạn chức năng hô hấp, thiếu ôxy vùng tranh tối-tranh sáng càng rõ rệt, cần cho thở ôxy và làm thông thoáng đường thở, hút đờm rãi và chống nhiễm trùng phế quản ngay lập tức, triệt để. Nên tránh cho ăn đường miệng sau đó hoặc để sau 2 - 3 ngày, phòng viêm phổi do trào ngược.

Giảm thân nhiệt sẽ làm giảm nhu cầu chuyển hoá các nơron, tăng sức chịu đựng của nơron với sự giảm ôxy tới 20 - 30%. Nên giữ nhiệt độ phòng khoảng 22 - 26oC.

Tăng cường chuyển hóa, nuôi dưỡng: Nuôi dưỡng qua đường sonde dạ dày bằng các chất dinh dưỡng lỏng, giúp tăng cường chuyển hóa cơ thể, tránh viêm dạ dày, ruột.

Điều trị đặc hiệu (Chủ yếu cho thể đột quỵ thiếu máu não).

Các thuốc chống kết tập tiểu cầu (anti platelet agents).

Các tác nhân này làm giảm kết tập tiểu cầu, làm giảm sự lan rộng của huyết khối động mạch (tiêu biểu là aspirin). Là thuốc cơ bản để điều trị dự phòng và điều trị tắc mạch. Nhưng có khả năng làm tăng nguy cơ chảy máu và không có hiệu quả trên fibrinogen hoặc độ nhớt máu.

- Ticlopidin, vẫn có nguy cơ chảy máu và có tác dụng lên fibrinogen khoảng 10%.

- Clopidogrel.

- Aspirin + dipyridamol, có hiệu quả tương tự clopidogrel

Điều trị chống đông (anticoagulant).

Mục đích làm giảm sự tạo thành thrombin và giảm cục máu đông giàu fibrin trong đột quỵ cấp tính, không có hiệu quả trên fibrinogen và độ nhớt máu. Tiêu biểu có các loại sau:

- Heparin, heparin trọng lượng phân tử thấp (điều trị giai đoạn cấp, bán cấp).

- Warfarin, coumadin, lovenox..., điều trị dự phòng, tiêm dưới da.

Điều trị tiêu cục huyết (thrombolitic): Làm giảm fibrinogen do khi đưa vào tĩnh mạch sẽ biến đổi plasminogen thành plasmin, plasmin có khả năng thủy phân fibrin, fibrinogen và các protein đông huyết tương khác làm tiêu cục huyết khối gây tắc mạch nguyên phát hoặc thứ phát. Tuy nhiên việc sử dụng các loại thuốc này đòi hỏi bệnh nhân đến viện sớm trước 3 – 6 giờ và tuân theo những chỉ định rất chặt chẽ, được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên sâu có phương tiện theo dõi các xét nghiệm tin cậy phòng tai biến chảy máu ồ ạt. Tiêu biểu có các loại sau:

rtPA (tissue plasminogen activator), thuốc này thịnh hành ở Mỹ.

Streptokinaza, urokinaza, dùng từ 3-6 giờ sau khởi phát đột quỵ.

Ancrod: chiết xuất từ nọc độc của loài rắn ở Malaysia, có tác dụng giáng hoá fibrinogen, giảm độ quánh của máu và tăng lưu lượng dòng máu tuần hoàn.

Các thuốc bảo vệ tế bào thần kinh

Các nghiên cứu cho thấy có vài cơ chế cùng tồn tại song song, mục đích giúp đỡ chuyển hóa ở mô bị rối loạn và có nguy cơ bị rối loạn dẫn đến phá hủy tế bào thứ phát.

Các yếu tố tăng dinh dưỡng thần kinh:

Do tác động kích thích mọc sợi trục, sợi gai nơron thần kinh. Cerebrolysin được coi là điều trị “bổ sung” lý tưởng cho bệnh nhân đột quỵ.

Tác động lên vi tuần hoàn của mô bị thiếu máu, từ đó tác động chuyển hóa, tác động hướng thần kinh, dẫn truyền thần kinh... Tùy từng loại mà tác động này hoặc khác trội lên. Tiêu biểu có các loại sau:

+ Hoạt chất Ginkgobiloba (tanakan và các chế phẩm...).

+ Bufflomedilchlohydrat (fonzilane).

+ Almitrine- raubasine (duxil), piracetam, stugeron, cavinton...

Tác dụng lên chất trung gian tổng hợp chuyển hóa acetylcholin và photpholipid (chất cấu tạo chính lên tế bào thần kinh và dẫn truyền xung động thần kinh) như citicolin.

Các kỹ thuật điều trị và dự phòng đột quỵ

- Kỹ thuật tạo hình động mạch não qua da.

- Giải phóng, làm tiêu cục tắc huyết khối gây tắc mạch.

- Nong rộng lòng mạch ở các động mạch bị hẹp.

- Điều trị các phình mạch, dị dạng động - tĩnh mạch bằng kỹ thuật gây tắc mạch hoặc nút mạch bằng coil kim loại.

- Kỹ thuật khai thông động mạch.

- Kỹ thuật lấy bỏ các cục máu tụ, giảm ép não bằng phẫu thuật.

- Kỹ thuật điều trị các u mạch, dị dạng mạch bằng phẫu thuật định vị.

Hy vọng với sự hiểu biết về mối nguy hiểm của bệnh đột quỵ và các phương pháp điều trị, các biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả, sẽ không còn nhiều người bệnh và gia đình họ phải đối mặt với hậu quả của đột quỵ não, để chất lượng cuộc sống của người cao tuổi càng được nâng cao.

TS. Nguyễn Hoàng Ngọc

TS. Nguyễn Hoàng Ngọc
Chia sẻ: Email Print 0Bình luận »

Gửi bình luận của bạn