Đường dây tiếp nhận những thông tin bất cập trong ngành Y
duongdaynongyte@gmail.com
19009095

Cập nhật 08:10 ngày 09/02/2010

Thuốc trị sán

Ngày 9 tháng 2, 2010 | 08:10

Nhân dân ta thường có tập quán ăn uống chưa hợp vệ sinh như ăn rau sống (nhất là các loại thuỷ sinh như: rau ngổ, cải xoong, rau muống nước, rau cần...),

Nhân dân ta thường có tập quán ăn uống chưa hợp vệ sinh như ăn rau sống (nhất là các loại thuỷ sinh như: rau ngổ, cải xoong, rau muống nước, rau cần...), uống nước lã, ăn gỏi cá, phở bò tái, nem chua, tiết canh... và khi trồng trọt (rau) lại có thói quen dùng phân tươi để tưới bón nên bệnh giun sán dễ phát triển, trong đó nguy hiểm nhất là nhiễm sán.

Có khá nhiều loại sán có thể ký sinh trong cơ thể người. Khivào cơ thể chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, làm tổn thương, rối loạn chức năng cơ quan tiêu hoá và toàn thân. Nếu những bệnh nhân nhiễm sán được phát hiện và điều trị kịp thời thường được điều trị khỏi hẳn. Tuy nhiên, không nên uống thuốc dự phòng vì thuốc không tồn tại lâu trong cơ thể, phần lớn bị đào thải hết sau 24 giờ.

Thuốc thường được dùng trong điều trị sán là praziquantel, triclabendazol, đôi khi còn dùng albendazol.

 Ăn gỏi dễ bị nhiễm sán.

Praziquantel

Có khá nhiều tên biệt dược: biltricid, cisticid, praquantel, pratez... Đây là dẫn xuất pyrazimo-isoquinolein, có phổ tác dụng rộng chống lại sán lá gan (nhỏ), sán phổi, sán ruột. Thuốc cũng có tác dụng đối với một số loại sán dây trưởng thành, đang trưởng thành và giai đoạn ấu trùng gây bệnh cho người như sán cá, sán lợn, sán chó, sán mèo...

Thuốc không dùng được cho người quá mẫn với thuốc, phụ nữ có thai (3 tháng đầu) hay mắc bệnh gạo sán trong mắt, bệnh gan sán tuỷ sống.

Do thuốc có thể gây chóng mặt, buồn ngủ nên không dùng khi lái xe, vận hành máy. Thận trọng với người có tiền sử co giật.

Do thuốc tiết vào sữa mẹ nên người mẹ phải ngừng cho con bú ít nhất 72 giờ sau liều cuối cùng mới tiếp tục cho bú.

Tác dụng phụ không mong muốn thường gặp: sốt, đau đầu, khó chịu, chóng mặt, buồn ngủ, đau bụng hoặc co cứng bụng, kém ăn, buồn nôn, nôn, tiêu chảy lẫn máu.

Hầu hết những người mắc bệnh sán gạo ở não dùng thuốc này thường gặp những tác dụng không mong muốn trên hệ thần kinh, vì vậy có lời khuyên nên dùng phối hợp với corticosteroid trong các trường hợp này.

Thuốc tương tác với caibamazepin và phenytoin do làm giảm nồng độ đáng kể praziquantel trong huyết tương.

Triclabendazol

Đây là thuốc đặc hiệu chống lại sán lá nhỏ chưa trưởng thành, sán lá trưởng thành Fasciola hepatica và Fasciola gigantica ở cả người và gia súc. Thuốc có hiệu quả cả trong nhiễm sán lá phổi. Tác dụng chống sán lá sớm 24 giờ sau khi nhiễm cũng như vào các giai đoạn ủ bệnh (1 - 4 tuần sau khi nhiễm), giai đoạn cấp, bán cấp và mãn tính của bệnh. Uống lúc đói, thuốc hấp thu nhanh, được bài tiết qua đường phân (90%), còn lại qua nước tiểu. Có ý kiến: nên dùng triclabendazol với bữa ăn để cải thiện khả dụng toàn thân của triclabendazol và các chất chuyển hoá của nó.

Thuốc được chỉ định trong điều trị: bệnh sán lá gan (Fasciola gigantica), bệnh sán lá phổi do paraonimus westermani hoặc các chủng paragonimus khác.

Thận trọng:- Dùng cho người suy thận, suy gan, với các đối tượng này, cân nhắc giữa lợi ích điều trị và nguy cơ có thể xảy ra (kể cả với phụ nữ có thai).

- Cảnh báo cho người lái xe, vận hành máy, làm việc trên cao vì thuốc có thể gây chóng mặt, dễ xảy ra tai nạn.

- Nên ngừng cho con bú trong khi điều trị và chỉ cho con bú lại sau khi đã dùng thuốc cuối cùng 72 giờ.

Tác dụng phụ thường gặp: ra mồ hôi, đau thượng vị, mệt mỏi, chán ăn, tiêu chảy, buồn nôn, nôn, vàng da, chóng mặt, nhức đầu, nổi mề đay, sốt, khó thở, ho. Nhiều khi tác dụng phụ còn liên quan do ký sinh trùng bị ảnh hưởng của thuốc chết hoặc do việc loại các sán chết ra khỏi hệ gan mật gây ra.

Albendazol

Biệt dược zeltel, ABZ, albentel, al400, zenben,ten400, vidoca...

Thuốc có thể dùng trong bệnh sán lá gan nhỏ (clonorchis sinensis), sán opisthorchisgen (opisthorchis viverrini), sán bò, sán lợn.

Thuốc không dùng cho người quá mẫn với thuốc, phụ nữ có thai hoặc nghi có thai (nguy hại cho thai), chỉ được có thai ít nhất sau 1 tháng ngừng dùng thuốc, không dùng cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi, những người có tiền sử nhiễm độc tủy xương.

Tránh dùng cho phụ nữ đang cho con bú. Thận trọng với người bệnh gan. Cần thiết có thể dùng cho trẻ dưới 2 tuổi nhưng phải giảm liều. Phối hợp với praziquantel làm tăng nồng độ chất chuyển hoá có hoạt tính của albendazol trong   huyết tương.

DS. Phạm Tiếp

Chia sẻ: Email Print 0Bình luận »

Gửi bình luận của bạn

Tổng biên tập: TTƯT.BS.Trần Sĩ Tuấn