Đường dây tiếp nhận những thông tin bất cập trong ngành Y
duongdaynongyte@gmail.com
19009095

Cập nhật 08:07 ngày 06/09/2011

Thuốc điều trị vết thương và vết loét

Ngày 6 tháng 9, 2011 | 08:07

Vết loét lâu liền là nỗi ám ảnh của nhiều người bệnh do xạ trị ung thư, tiểu đường, tai nạn giao thông, người bệnh nằm lâu năm…

Vết loét lâu liền là nỗi ám ảnh của nhiều người bệnh do xạ trị ung thư, tiểu đường, tai nạn giao thông, người bệnh nằm lâu năm… Vết loét lâu ngày khiến người bệnh đau đớn, mặc cảm và gây phiền toái rất nhiều trong sinh hoạt hàng ngày.

Thế nào là vết thương, vết loét?

Vết thương có thể là do nguyên nhân cơ học, bỏng hay nguyên nhân hóa học. Loét có thể do một số bệnh, khi nằm lâu, ít thay đổi tư thế, vị trí thường gặp ở 2 mông, bả vai, gót, mắt cá chân và loét do bệnh lý thần kinh.

Loét do nằm lâu, nằm yên ở một vị trí gây tỳ nén kéo dài trên da gây thiếu máu cục bộ. Loét chân là do suy tĩnh mạch hay gây thiếu máu cục bộ, bệnh hệ thần kinh ngoại biên, như bệnh nhân đái tháo đường hay bệnh phong. Nhiều vết thương nhất là các vết loét rất lâu lành gây phiền toái và khó khăn trong chăm sóc, điều trị.

Điều trị có thể chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn cầm máu ngay sau khi có vết thương.

- Giai đoạn kết hạt và tái tạo biểu mô.

- Giai đoạn tu sửa da và tạo lại hình.

Cầm máu tạo thành những cục gồm tiểu cầu và cục máu gồm fibrin, kết hạt và tái tạo biểu mô tiếp theo và kéo dài khoảng ngày thứ 21 kể từ lúc xảy ra vết thương, tùy thuộc vết thương rộng hẹp, nơi có vết thương yếu tố phát triển do tiểu cầu sinh ra sẽ kích thích các nguyên bào sợi tạo nên mô kết hạt gồm chất nền collagen kèm với các mao mạch và các tế bào biểu bì mọc ra tái tạo nên biểu mô trên bề mặt của vết thương. Chất nền collagen chắc lại trong quá trình tu sửa da và tạo lại hình và kèm theo là giảm bớt các mao mạch. Giai đoạn này có thể kéo dài tới 2 năm kể từ khi bị thương.

 Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, một trong nhiều nguyên nhân gây ra viêm nhiễm.

Ðiều trị vết thương, vết loét

Cần chú ý một số yếu tố quan trọng: dinh dưỡng đủ chất, đặc biệt là vitamin C và kẽm cần đủ oxy và việc tưới máu phải tốt. Phải chú ý tránh nhiễm khuẩn toàn thân (hay tại chỗ). Bên cạnh đó là việc xử lý những nhiễm khuẩn này. Cần đến một số yếu tố tế bào hay không phải tế bào như các tiểu cầu và các yếu tố phát triển: thiếu các yếu tố này cũng làm vết thương lâu lành. Như vậy, tuổi tác, điều kiện toàn thân, thuốc dùng, dinh dưỡng, khuyết tật bẩm sinh đều ảnh hưởng đến tốc độ lành vết thương.    

Chăm sóc tại chỗ:

Rửa, loại bỏ dịch viêm, dự phòng nhiễm khuẩn. Điều trị vết thương và việc lựa chọn các chế phẩm này phải dựa vào kích thước vết thương, nơi có vết thương, loại vết thương, nông hay sâu và nguyên nhân gây nên, sự nhiễm khuẩn và vết thương đang ở giai đoạn nào.

Thường dùng dung dịch natri chlorid 0,9%, hypochlorid, hydro peroxyd, povidine-iod, chlorhexidin. Hypocholorid có thể làm chậm lành vết thương khi dùng lâu dài vì chúng làm chậm sản sinh collagen và gây viêm. Dung dịch natri chlorid thích hợp cho việc rửa hàng ngày những vết thương không nhiễm khuẩn. Có nhiều dung dịch rửa cho phép loại bỏ vảy kết như dextranomer, hydrogel, hydrocolloid. Cắt lọc phần mềm có hiệu quả trong việc loại bỏ mô hoại tử. Các vết thương có thể sinh ra một lượng lớn dịch rỉ do cơ chế viêm, đặc biệt trong mấy ngày đầu. Các chế phẩm hydrocollorid và alginat là những chất hút ẩm hiệu quả.

Tất cả các vết thương nhiều ít đều có vi khuẩn, khi nhiễm Pseudomonas aeruginosa thì có thể làm vết thương lâu lành và bạc sulfadiazin được dùng trong trường hợp này, đặc biệt khi bỏng. Cần phải điều trị nhiễm khuẩn toàn thân khi có lâm sàng như đau đột ngột, viêm mô tế bào, khi chất thải tăng.

Bên cạnh đó, việc băng bó vết thương là cần thiết. Một số bông băng hấp thụ các dịch viêm. Bông, len, gạc không dùng được cho vết thương sâu vì có thể có sợi tách ra, dính vào vết thương làm vết thương mất nước. Các hydrogel, hydrocolloid, polysaccharid, cadexomer-oid, alginat và băng bông bọt là những phẩm vật thích hợp cho những vết thương sâu, có hang, có hốc.

Với những vết thương có mùi hôi thối, than hoạt rất có hiệu quả. Metronidazol có hoạt tính chống vi khuẩn yếm khí, những vi khuẩn này tạo mùi hăng hắc và được dùng ngoài để khử mùi khó chịu ở các khối u (mà không dùng ở các vết thương vì có thể gây kháng thuốc).

Còn có những cách khác để điều trị những vết thương hay vết loét đặc biệt như làm cho thể dịch ở chân thoát đi, treo cao chân, gập đi gập lại cổ chân, hay dùng băng để bó, ép đều có ích trong vết loét do suy tĩnh mạch. Các bioflavonoid, oxpentifylin uống cải thiện được tình trạng suy tĩnh mạch, loét chân làm vết thương mau lành. Ketanserin dùng bôi ngoài hay đường toàn thân đã được dùng và tỏ ra có ích cho những vết thương hay vết loét mà lưu lượng máu ở đó không đủ hoặc phẫu thuật mạch là cần thiết.
Loét do nằm lâu một vị trí, việc làm giảm lực nén là rất quan trọng. Có một số vết thương cần ghép da.

  DS. Phạm Thiệp

Chia sẻ: Email Print 0Bình luận »

Gửi bình luận của bạn

Các thắc mắc của bạn đọc về sức khỏe sẽ được giải đáp tại chuyên mục Phòng mạch online, mời các bạn đón đọc.
Tổng biên tập: TTƯT.BS.Trần Sĩ Tuấn