Đường dây tiếp nhận những thông tin bất cập trong ngành Y
  • 19009095
  • duongdaynongyte@gmail.com
Tổng biên tập: Thầy thuốc ưu tú BS.Trần Sĩ Tuấn

08/07/2010 14:10

Nấc kéo dài, làm sao hết?

Theo thời gian diễn biến, nấc được chia thành các thể cấp tính (diễn biến dưới 48 giờ), mạn tính kéo dài (từ 48 giờ đến 2 tháng) và dai dẳng (trên 2 tháng). Nấc mạn tính thường gây ra do các tổn thương bệnh lý khác.

Rất nhiều loại thuốc có khả năng gây nấc, gặp nhiều nhất là nhóm corticosteriod (prednisolone), benzodiazepine (diazepam), thuốc điều trị parkinson, các hoá chất chống ung thư, kháng sinh (như nhóm macrolid, fluoroquinolon), thuốc trợ tim (digoxin) và một số dẫn xuất thuốc phiện (như hydrocodone), cần lưu ý là các thuốc chữa nấc cũng có thể gây nấc. Các nguyên nhân gây nấc khác có thể gặp là do tổn thương thần kinh trung ương (chấn thương sọ não, viêm não), yếu tố tâm lí (lo lắng, sang chấn tâm lí), sau phẫu thuật bụng, nhồi máu cơ tim, một số trường hợp nấc không xác định được căn nguyên.

Mặc dù nấc không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể đem lại khá nhiều phiền toái cho người bệnh. Nấc sau mổ có thể gây đau đớn, làm nứt vết mổ và giảm sút thể lực của người bệnh. Những trường hợp nấc kéo dài thường làm cho người bệnh bị mệt mỏi, mất ngủ, mất nước và kiềm hô hấp do tăng thông khí.

Điều trị nấc: điều trị nguyên nhân là biện pháp quan trọng nhất, trước tiên cần xác định tất cả các tác nhân gây nấc hoặc làm nặng tình trạng nấc để loại bỏ hoặc sửa chữa nếu có thể. Trong những trường hợp không xác định được hoặc không thể điều trị được nguyên nhân, có thể cân nhắc sử dụng các phương pháp điều trị triệu chứng.

 Cơ chế gây nấc.

Điều trị bằng thuốc: rất nhiều loại thuốc có thể giúp giảm triệu chứng nấc theo những cơ chế khác nhau. Baclofen - một chất có cấu trúc giống GABA có tác dụng hoạt hoá một chất dẫn truyền thần kinh ức chế, từ đó ngăn chặn được các kích thích nấc. Đây là một trong những thuốc hiệu quả nhất trong điều trị các trường hợp nấc mạn tính do nhiều nguyên nhân khác nhau như các bệnh lý ở dạ dày - thực quản, tổn thương thân não hoặc nấc vô căn, kể cả những trường hợp không đáp ứng với nhiều loại thuốc khác. Thuốc có thể gây buồn ngủ, mất ngủ, yếu cơ, lú lẫn... Các loại thuốc liệt thần như chlorpromazine, promethazine, prochloperazine và haloperidol đều có tác dụng giảm nấc thông qua việc ức chế cạnh tranh với dopamin ở vùng dưới đồi. Tác dụng phụ thường gặp nhất của các thuốc này là gây buồn ngủ, khô miệng và dấu hiệu ngoại tháp... Do nhiều tác dụng phụ nên hiện nay nhóm thuốc này ít được sử dụng trong điều trị giảm nấc. Metoclopramide - một thuốc thường dùng để chống nôn cũng có tác dụng giảm nấc thông qua việc làm giảm cường độ co bóp của thực quản. Các thuốc ức chế bơm proton (như omeprazole) có thể giảm triệu chứng nấc thông qua việc giảm tiết dịch vị và giảm tình trạng đầy trướng hơi của dạ dày. Nifedipine - thuốc thuộc nhóm chẹn kênh canxi thường dùng với mục đích hạ huyết áp cũng có thể giúp giảm nấc thông qua việc đảo ngược quá trình khử cực bất thường trong cung phản xạ nấc. Trong khi đó, sertraline tác dụng chống nấc thông qua các receptor 5HT4 ở ống tiêu hoá, gây giảm các nhu động bất thường ở thực quản, dạ dày và cơ hoành hoặc qua các receptor 5HT1A  và 5HT2 gây ức chế cung phản xạ nấc. Nhiều loại thuốc khác cũng có tác dụng hỗ trợ trong việc giảm nấc ở một số trường hợp như nefopam, lidocaine tiêm tĩnh mạch, amitriptyline, amantadine, acid valproic, gabapentin, clonazepam, cisapride, một số thuốc gây mê và chống co giật (như phenytoin). Trong những trường hợp nấc dai dẳng không đáp ứng với một loại thuốc, việc phối hợp đồng thời nhiều thuốc là cần thiết. Phác đồ phối hợp thường được sử dụng và đã chứng minh được hiệu quả là cisapride + omeprazole + baclofen, có thể dùng thêm gabapentin.

Điều trị không dùng thuốc:

Một số nghiệm pháp mang tính cơ học có thể được thử nghiệm trước khi quyết định dùng thuốc như hít sâu và nín thở, kích thích vào vùng hầu họng, ngoáy mũi gây hắt hơi, ép mạnh vào vùng cơ hoành bằng tay, xoa bóp vùng hậu môn, uống nước thật chậm và bịt mũi trong khi nuốt, uống một cốc nước lạnh và bịt tai trong khi uống, uống một cốc nước ấm có pha một thìa mật ong,  nuốt nhanh một thìa đường hoặc mật ong... Riêng ở trẻ nhỏ có thể điều trị nấc bằng cách gây động tác mút ở trẻ (cho trẻ bú mẹ, bú bình hoặc núm vú giả...). Một phương pháp khác có thể được sử dụng là hít thở vài lần vào một túi kín (thở lại khí giàu carbonic), đây là phương pháp khá mạo hiểm vì có thể gây tăng nồng độ carbonic trong máu dẫn đến toan máu và cần được thực hiện dưới sự giám sát của người khác và phải có ôxy dự phòng. Nói chung, hiệu quả của các biện pháp cơ học này thường chỉ mang tính tạm thời. Một số phương pháp phức tạp hơn có thể được thử nghiệm như châm cứu, gây tê ngoài màng cứng ở cột sống cổ, phong bế thần kinh hoành... Phẫu thuật cắt dây thần kinh hoành là biện pháp cuối cùng, chỉ dùng trong những trường hợp nấc nặng, dai dẳng và không đáp ứng với các biện pháp điều trị khác vì có nguy cơ gây suy hô hấp. 

Có khoảng gần 100 nguyên nhân khác nhau gây ra nấc, thường gặp nhất là do các bệnh lý ở đường tiêu hoá gây kích thích các đầu dây thần kinh phế vị và thần kinh hoành (như bệnh lý trào ngược dạ dày - thực quản, viêm loét dạ dày, viêm thực quản, viêm túi mật, viêm tụy, dạ dày trướng hơi). Các rối loạn chuyển hoá do thuốc và độc chất (như tăng urê máu, ngộ độc rượu, sau dùng một số thuốc) cũng là nhóm nguyên nhân thường gặp.

ThS. Tguyễn Thu Hiền

VOTE:

Bình luận của bạn

Sức khỏe & Đời sống online rất mong nhận được bình luận của các bạn xung quanh vấn đề này. Xin hãy GỬI BÌNH LUẬN ý kiến của mình phía dưới bài viết, điền thông tin theo cách hệ thống hướng dẫn rồi nhấn GỬI BÌNH LUẬN. Mọi ý kiến của các bạn đều được Sức khỏe & Đời sống online đón đợi và quan tâm. Cám ơn các bạn!