Đường dây tiếp nhận những thông tin bất cập trong ngành Y
duongdaynongyte@gmail.com
19009095

Cập nhật 08:15 ngày 03/10/2011

Điều trị kháng sinh… chủ yếu theo kinh nghiệm!

Ngày 3 tháng 10, 2011 | 08:15

Biến chứng thường gặp nhất của NKDR là viêm mô tế bào, khi đó cần phải điều trị kháng sinh nếu không sẽ gây ra biến chứng nặng dẫn đến tử vong. Đáng báo động, việc điều trị kháng sinh chủ yếu dựa theo kinh nghiệm.

Theo TS.BS. Nguyễn Thị Hồng – trưởng bộ môn bệnh học miệng, khoa răng hàm mặt, Đại học Y dược TP. HCM, trong các bệnh lý răng hàm mặt, nhiễm khuẩn do răng (NKDR) là bệnh lý phổ biến nhất. Bệnh thường do nhiều loại vi khuẩn gây ra. Biến chứng thường gặp nhất của NKDR là viêm mô tế bào, khi đó cần phải điều trị kháng sinh nếu không sẽ gây ra biến chứng nặng dẫn đến tử vong. Đáng báo động, việc điều trị kháng sinh chủ yếu dựa theo kinh nghiệm. Hậu quả là hiện nay nhiều loại kháng sinh đã bị kháng do sự lạm dụng kháng sinh trong điều trị và phòng bệnh.

Trong miệng có hơn 500 vi khuẩn gây bệnh

BS.CKII. Huỳnh Anh Lan – Phó Chủ tịch Hội Y học TP.HCM cho biết, trong miệng có hơn 500 chủng vi khuẩn khác nhau thường trú với nhiều hình dạng, thuộc nhiều kiểu yếm khí, ái khí bắt buộc, tùy nghi. Một số thường được phân lập trong nhiễm khuẩn do răng và được xem là vi khuẩn gây bệnh như S.viridans, staphylococcus, peptostreptococcus, fusobacterium, prevotella…Theo nghiên cứu của TS.BS. Nguyễn Thị Hồng, nhiễm khuẩn quanh chóp răng hay mô nha chu tiến triển có thể lan vào trong mô mềm vùng hốc miệng, mặt, cổ dẫn đến viêm mô tế bào. Viêm mô tế bào xảy ra ở nam nhiều hơn nữ, thường gặp nhất từ 20 - 40 tuổi (52,6%). Đa số răng nguyên nhân ở hàm dưới (73,7%), vùng răng sau (94,7%) phổ biến nhất của viêm mô tế bào (57,9%), xảy ra ở răng bị chết tủy thường do sâu răng hoặc có thể do chấn thương. Ngoài ra, viêm mô tế bào còn do áp-xe quanh thân răng (42,1%), hầu hết ở răng 8 dưới do thường mọc lệch hay kẹt.

 Ảnh minh họa
Việc điều trị kháng sinh đối với viêm mô tế bào do răng và NKDR thường dựa theo kinh nghiệm, vì xét nghiệm vi khuẩn và kháng sinh đồ phải chờ nhiều ngày mới có kết quả. Việc điều trị kháng sinh chủ yếu dựa theo kinh nghiệm đã dẫn đến nhiều loại kháng sinh đã bị kháng. Cụ thể, hiệu quả điều trị của thuốc metronidazole giảm 54%, spiramycin giảm 41,8%, azithromycin giảm 53,8% nếu sử dụng riêng lẻ. Đáng chú ý là trực khuẩn kỵ khí thường kết hợp với vi khuẩn hiếu khí đã đề kháng cao với ampicillin, penecilin (hiệu quả giảm trên 71%). Theo BS. Huỳnh Anh Lan, nguyên nhân khiến vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh là do người dân lạm dụng kháng sinh, một số bác sĩ kê toa tùy tiện hoặc không hợp lý…

Kháng sinh: cho dư còn hơn thiếu!

Theo BS. Huỳnh Anh Lan, kháng sinh là một nhóm thuốc chủ lực trong ngành y tế nói chung và trong thực hành răng hàm mặt đó là một vũ khí không thể thiếu để điều trị nhiễm khuẩn răng miệng. Ghi toa thuốc kháng sinh là công việc thường ngày của bác sĩ răng hàm mặt. Tuy nhiên, những điều tra trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy việc này chưa hẳn được thực hiện một cách đúng đắn. Trong những năm gần đây trên thế giới đã có sự báo động một số chủng vi khuẩn gây bệnh vùng miệng đã bớt nhạy cảm với các kháng sinh thông dụng trong răng hàm mặt và bên cạnh đó một số kháng sinh đã nhanh chóng bị kháng thuốc mặc dù mới đưa vào điều trị.

Bác sĩ răng hàm mặt ghi toa thuốc kháng sinh trong thực hành hàng ngày nhưng có khi chưa ý thức đúng mức kháng sinh là một nhóm thuốc đặc biệt so với những thuốc khác. BS. Anh Lan nói rõ, trong thực hành răng hàm mặt, kháng sinh chỉ được sử dụng trong 2 chỉ định là kháng sinh điều trị và kháng sinh dự phòng. Có nghĩa là chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn hay thực sự có nguy cơ nhiễm khuẩn. Không phải mọi trường hợp sốt hay viêm nhiễm đều do vi khuẩn. Đối với nhiễm virút, cho đến nay vẫn chưa có chứng cứ nào cho thấy kháng sinh có khả năng ngăn ngừa nhiễm khuẩn thứ cấp. Mặt khác, trong thực hành răng hàm mặt không phải trường hợp nhiễm khuẩn nào cũng giải quyết bằng kháng sinh mà cần nghĩ nhiều hơn đến vai trò rất quan trọng của những thủ thuật mở tháo, dẫn lưu và sử dụng những tác nhân kháng khuẩn tác dụng tại chỗ (nước súc miệng, thuốc thoa, dung dịch bơm rửa, thuốc đặt trong rãnh nướu…).

BS. Huỳnh Anh Lan cho rằng, trong trường hợp kháng sinh điều trị, chọn lựa kháng sinh thích hợp nhất cho từng trường hợp tùy thuộc rất nhiều yếu tố. Nhưng có thể gộp lại thành 4 nhóm yếu tố: yếu tố thuộc tác nhân gây bệnh, tác nhân thuộc cơ địa người bệnh, yếu tố thuộc về thuốc kháng sinh và yếu tố thuộc về môi sinh xã hội. Riêng về kháng sinh phòng ngừa, BS. Anh Lan nói thẳng, các bác sĩ răng hàm mặt thường lúng túng đối với việc ghi toa thuốc kháng sinh phòng ngừa: chỉ định trong tình huống nào, liều lượng, thời gian, loại kháng sinh nào… cho nên có xu hướng cho dư còn hơn thiếu để “chắc ăn”. Kháng sinh phòng ngừa khác với kháng sinh điều trị, không phụ thuộc vào tác nhân gây nhiễm khuẩn và không cần chọn lựa kháng sinh thích hợp mà chủ yếu theo mô thức. Mô thức này được quy định do cơ địa người bệnh và tính chất xâm lấn (hay gây chảy máu) của can thiệp. Các mô thức của kháng sinh phòng ngừa được chọn tùy theo 3 loại cơ địa: khỏe mạnh, có nguy cơ nhiễm khuẩn tại chỗ và nguy cơ nhiễm khuẩn ở xa. Các loại can thiệp được xem là xâm lấn trong thực hành răng hàm mặt bao gồm: nhổ răng, điều trị nha chu, đặt implant/tái cấy ghép răng, thao tác nội nha quá chóp, đặt kháng sinh tại chỗ dưới nước… BS. Lan cũng cho biết, hiện nay kháng sinh phòng ngừa đang được xem xét lại về hiệu quả, có thực sự bảo vệ người bệnh hay chỉ có tác dụng làm cho thầy thuốc an tâm và ngược lại có khi trở thành ỷ lại và bớt chú trọng đến các biện pháp chống lây nhiễm khác.

NGUYỄN HUYỀN

Chia sẻ: Email Print 0Bình luận »

Gửi bình luận của bạn

Các thắc mắc của bạn đọc về sức khỏe sẽ được giải đáp tại chuyên mục Phòng mạch online, mời các bạn đón đọc.
Tổng biên tập: TTƯT.BS.Trần Sĩ Tuấn