Cảo thơm lần giở: Strinberg nghĩ gì?

SKĐS - Trong lĩnh vực văn xuôi, Strinberg cũng có những đóng góp quan trọng và cách mạng đối với văn học.

(Tiếp theo số chủ nhật 125)

Phần 2

Trong lĩnh vực văn xuôi, Strinberg cũng có những đóng góp quan trọng và cách mạng đối với văn học. Tiểu thuyết và truyện ngắn của ông đặc trưng bởi đối thoại rất tự nhiên, miêu tả, phê phán con người và xã hội một cách độc đáo, sâu sắc, không công thức, trào phúng. Phong cách của ông vừa hiện thực với nhiều sự việc, vừa nội tâm, trữ tình ấn tượng chủ nghĩa, có tính kệch cỡm dân gian; tác giả sử dụng những yếu tố tượng trưng, siêu thực, lịch sử và tự truyện...

Căn phòng đỏ (1879) là cuốn tiểu thuyết trào phúng phê phán xã hội, đả kích Nghị viện, quan liêu, lừa đảo kinh tế và tôn giáo. Tác giả đòi hỏi những cải cách cơ bản. Bút pháp hiện thực đến mức tự nhiên chủ nghĩa. Chuyện kể về một thanh niên có lý tưởng bỏ việc để theo nghề văn; thất vọng, chàng lại trở về đời sống công chức. “Những cảnh đời nghệ sĩ và nhà văn” ấy đưa ra một loạt chân dung biếm họa: nhà buôn cho vay lãi, nhà báo bất lương, phụ nữ khoe khoang làm điều thiện, nhà xuất bản ngu dốt, nghị sĩ ti tiện... Có rất nhiều truyện nhỏ. Tác phẩm sắc nét này đánh dấu văn học hiện đại.

Đứa con trai người đầy tớ gái (1886-1887) là một cuốn tiểu thuyết tự truyện, phân tích những yếu tố tâm lý và xã hội; đó là “truyện sự phát triển của một tâm hồn”. Những kỷ niệm ảm đạm thời thơ ấu và niên thiếu cho đến khi tác giả vào đại học. Tác phẩm này mở ra một truyền thống tiểu thuyết tự truyện trong văn học Thụy Điển.Nhà văn hóa Strinberg (1849-1912).

Nhà văn hóa Strinberg (1849-1912).

Bản biện hộ của một người điên (1887). Có thể coi đây là tài liệu của một bệnh nhân tâm thần, viết ra để tự giải thoát.

Những người đảo Hem-xơ (1887) là cuốn tiểu thuyết được phổ biến rộng rãi nhất của Strinberg, được coi là tác phẩm mang tính chất Thụy Điển rõ nét nhất; truyện được đưa lên sân khấu cùng năm 1887. Tác phẩm phản ánh đời sống nông dân ở một hòn đảo nhỏ vùng “quần đảo Stockholm” vào thời gian Thụy Điển sắp công nghiệp hóa. Nhân vật chính là gã nông dân Carlsson (Cac-xôn) từ vùng khác đến đảo làm thuê cho một bà góa đã quá tuổi xuân. Gã khôn ngoan tháo vát nên đã vực được trang trại suy sụp của bà chủ lên; bà này tính toán ngỏ lời lấy gã. Gã đồng ý rồi cưới, nhưng đòi bà viết văn tự cho gã thừa kế của cải. Sau khi chắc mẩm là yên vị, gã tính đường lấy một con ở còn trẻ; bà vợ biết được chuyện hủy chúc thư đi. Carlsson mất hết của, lại chết đuối khi trời bão lúc chở thi hài vợ đến nhà thờ.

Âm phủ (1897), là một tác phẩm tự truyện viết bằng tiếng Pháp, kể về khủng hoảng tinh thần những năm 1895-1897. Câu chuyện bắt đầu bằng ngày người vợ thứ hai của ông rời Paris, bỏ mặc ông nghiên cứu khoa học huyền bí và hóa học. Ông muốn tìm cách chế tạo vàng. Ông luôn có hoang tưởng bị truy bức, dù trốn hết nơi này đến nơi khác. Sau cùng, ông tìm thấy chân lý trong học thuyết Swedenborg. Địa ngục ở ngay trên trái đất, con người chỉ có thể được giải thoát bởi những đau khổ gây ra bởi sự độc ác của bản thân và kẻ khác.

Vợ chồng (1884-1886) là một tập ký và truyện về đời sống vợ chồng nhằm chống lại quan điểm giải phóng phụ nữ của Ibsen trong vở kịch Nhà búp bê (1879); nhà viết kịch Na Uy này đả mạnh vào sự ích kỷ của nam giới ở xã hội tư sản chỉ coi phụ nữ là búp bê. Strinberg cho là hôn nhân bóp méo hoặc phá hoại bản chất bản năng của tình yêu; nam nữ bao giờ cũng xung đột; làm mẹ là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc đời người phụ nữ, nó làm lu mờ nhu cầu đòi giải phóng chỉ là giả tạo ở người đàn bà. Ông còn ghét phụ nữ vì bản chất của họ là muốn tiêu hủy đàn ông, muốn ngự trị đàn ông bằng hình thức này hay hình thức khác, đàn ông tin đàn bà, có gì đưa hết cho họ và trở thành nô lệ.

Sở trường của ông là “đối thoại”, “đối thoại” không những trong các vở kịch mà còn ở mọi thể loại. Có lẽ vì vậy mà trong các loại trước tác của ông, kịch đã sớm có tiếng vang ra nước ngoài (Đức rồi cả châu Âu), mở đường cho sân khấu hiện thực chủ nghĩa ở châu Âu năm 1920. Kịch có dáng dấp tự nhiên chủ nghĩa của ông đã sinh ra “sân khấu tàn ác”; “kịch mộng tưởng” của ông đi trước học thuyết Freud, đã ảnh hưởng đến sân khấu Pháp với Lenormand (Lơ-nooc-măng), Ý với Pirandello (Pi-ran-de-lơ), Mỹ với O’Neill (Âu-Nin)... Các nhà văn đi tiên phong trong văn học hiện đại khác như Kafka (Cap-ca), Henry Miler (Hen-ry Mi-lơ)... chịu ảnh hưởng tiểu thuyết và kịch của Strinberg. Mãi đến giữa thế kỷ XX, thế giới mới phát hiện toàn bộ cái vĩ đại của Strinberg.

Sau đây là một số suy nghĩ của Strinberg:

Trái đất là một trại giam mà chúng ta phải chịu tội vì tội ác mà chúng ta đã phạm phải trong cuộc sống tiền kiếp.

Những tính cách của tôi là một mớ hỗn độn, những mảnh vụn của các nền văn minh hiện tại và quá khứ, những mẩu sách báo, những mảnh của con người, những mẩu dứt khỏi quần áo hội hè đã trở thành giẻ rách.

Luân lý, đáng lẽ phải là môn nghiên cứu những quyền lợi và bổn phận, cuối cùng đã trở thành môn nghiên cứu những bổn phận của người khác đối với mình, luân lý chỉ thể hiện dưới hình thức một tuyển tập lớn những nhiệm vụ.

Những sách cho thiếu nhi đã bắt đầu phá từng mảnh nền văn minh. Robinson đánh dấu một thời đại, và cuốn “Khám phá châu Mỹ” (của Christophe Colomb), cuốn “Người đi săn những bộ tóc” (của Thomas Mayne Reid) và rất nhiều sách khác gợi lên sự chán ngấy sách cổ điển.

Không đâu, tôi ưa thích sự yên lặng hơn, trong sự yên lặng người ta nghe được những ý nghĩ, người ta nhìn thấy dĩ vãng, im lặng không thể che giấu được những gì mà lời nói có thể che giấu được.

Bao giờ cũng cần phải tìm hiểu bản chất người khác trước khi để bản chất của mình được bộc lộ thoải mái.

Mục đích tự nhiên là tách cảm thụ cảm giác ra ngoài tư tưởng, trong nghệ thuật lại tìm cách thể hiện tư tưởng qua một cái vỏ vật chất để thể hiện nó rõ ràng.

Tôi yêu cô ta, cô ta yêu tôi, vậy mà chúng tôi căm ghét nhau bằng một sự căm ghét dữ dội của tình yêu mà điều đó lại tăng lên do không gặp nhau.

Gia đình là cái ổ của tất cả những thói hư tật xấu của xã hội; gia đình là nhà dưỡng lão của những bà cô thích sự thoải mái, nhà tù của nam giới chủ gia đình, địa ngục của trẻ em.

Hy vọng êm dịu của tôi, hoài niệm sâu lắng của tôi là: lại bắt tay với nhân loại qua sự trung gian của phụ nữ.

Ta không nên coi một ngày là vui trọn vẹn trước khi đội chiếc mũ ngủ.

Vào tuổi 20, người ta nghĩ là đã giải quyết được cái bí ẩn của thế giới; vào tuổi 30, người ta bắt đầu suy nghĩ về điều bí ẩn đó, vào tuổi 40 thì người ta phát hiện ra không thể tìm ra điều bí ẩn đó.

Có thể nói là cuộc đời chỉ là một trò đùa lớn.

Ở đời, có những con sói và có những con cừu. Đối với thiên hạ, làm kiếp cừu không phải là điều được kính nể. Nhưng bản thân tôi thích làm cừu hơn làm sói.

Đúng vậy các con ạ, sống ở đời y như đánh đu: khi đu lên cao, ta vênh mặt nhìn xung quanh, rồi lại đu xuống thấp, rồi lại lên cao, cứ thế mãi.

Nhiều khi không nói hết ý mình, không nhìn tất cả mọi thứ ta có thể nhìn được. Điều đó có thể mệnh danh là khoan dung, và tất cả chúng ta đều cần có sự khoan dung.

Hữu Ngọc

loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Cảo thơm lần giở: Strinberg nghĩ gì?

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT