Cảo thơm lần giở: Kawabata

SKĐS - Kawabata (Ka-oa-ba-ta, 1899-1972) là nhà văn người Nhật được giải Nobel đầu tiên (năm 1968), đúng dịp kỷ niệm 100 năm hiện đại hóa văn học Nhật Bản...

Kawabata (Ka-oa-ba-ta, 1899-1972) là nhà văn người Nhật được giải Nobel đầu tiên (năm 1968), đúng dịp kỷ niệm 100 năm hiện đại hóa văn học Nhật Bản, tính từ cuộc Duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng năm 1868. Ông là tác giả châu Á thứ 3, sau Rabindranath Tagore (Ấn Độ, 1913) và Shmuel Yosef Agnon (Isarel, 1966) đoạt giải Nobel văn học. Ông tự tử năm 73 tuổi. Vậy mà năm 28 tuổi, khi nhà văn Nhật Akutagawa tự tử, ông đã không tán thành. Có thể một lý do khiến ông chấm dứt cuộc đời là vì ông cảm thấy không giữ nổi thăng bằng giữa hai lối sống đối lập nhau: lối sống cổ truyền và lối sống hiện đại. Tính cách lưỡng phân ấy là cái nền sáng tác của ông. Ông cảm thấy là bản sắc Nhật còn đậm nét vào đầu thế kỷ XX, đã khá bạc màu từ sau cuộc thất bại của đất nước năm 1945. Nỗi nhớ nhung văn hóa thời cố đô khôn nguôi.

Nhưng hẳn đó không phải là lý do duy nhất giải thích việc tự sát của một nghệ sĩ tự nhận mình là “một du khách u buồn lang thang trên thế gian này”.

Sau khi ra đời, ông mất bố, mẹ, bà và người chị duy nhất. Ông sống với ông nội mù và già yếu, mất khi ông 15 tuổi. Nhật ký năm 16 tuổi của ông đã kể lại khi ông nội hấp hối và đám tang. Không lạ gì các tác phẩm của ông thường được đánh dấu bởi sự hủy hoại và cái chết. Truyện Vũ nữ ở Idư (1926), tác phẩm nổi tiếng đầu tiên, luôn thấp thoáng cái chết và gợi lại cả thuyết luân hồi nhà Phật: một thiếu nữ bị người yêu bỏ rơi, người yêu sau đó bị tai nạn chết; cô đi tìm hồn anh trong một bông hoa mai.

Những sáng tác của Kawabata cũng thể hiện cái Đẹp, biểu hiện xung năng Sống, đối lập và đối trọng của Tình yêu là biểu hiện của xung năng Chết. Đó là hai thái cực của một công trình sáng tác mang chất thơ của trào lưu “cảm xúc mới” do ông đề ra. Nghệ sĩ luôn luôn đi tìm cái đẹp, tôn thờ hoặc sáng tạo một cái đẹp tuyệt đối, vượt thời gian, không gian, lễ nghĩa, vì cái đẹp, nghệ thuật, có thể là sự thành công của cái Sống chống lại sự hủy hoại của cái Chết.

 

Nhà văn Kawabata (1899-1972)

Nhà văn Kawabata (1899-1972)

 

Kawabata muốn tìm gốc rễ cái Đẹp Nhật Bản ở thời Hêian (thế kỷ VIII - XII) có một nền văn hóa ngọt ngào nữ tính; ông cho đó mới là bản chất thật của dân tộc Nhật, chứ không phải sắc thái nam nhi thượng võ. Dĩ nhiên, ông gắn bó với truyền thống cố đô Kyoto, nổi tiếng về tranh lụa, sơn mài, kimono, cắm hoa, trà đạo... (Truyện kể về Ghengi). Tình yêu thiên nhiên là một đặc trưng của tâm hồn Nhật: “Tuyết, mặt trăng, hoa anh đào, những từ nói lên cái đẹp bốn mùa chuyển hóa, kết tinh tất cả truyền thống Nhật về cái đẹp núi sông, cây cỏ, hàng nghìn thể hiện phản ánh thiên nhiên và muôn nghìn tình cảm con người”. Cái nền của sự gắn bó với thiên nhiên là tư tưởng phương Đông, Trung Quốc, Phật giáo, cái đẹp của sự vật phù du... Trong những sự vật phù du, cái đẹp của thân thể phụ nữ vừa là tình dục vừa vượt qua tình dục. Tiểu thuyết Những người đẹp trong giấc điệp, được nhà văn Colombia Garcia Marquez coi là kiệt tác, kể về một ông già năm lần đến một nhà chứa đặc biệt để ngắm thân thể những cô gái còn trinh đã uống thuốc ngủ cực mạnh. Chỉ để ngắm cái đẹp thôi vì họ bất lực, đồng thời gợi lại những ảo giác tình dục xưa vượt trên tình dục, còn là sự tương phản siêu hình học giữa cái Sống (cái Đẹp) và sự suy thoái hủy hoại của cái Chết.

Sáng tạo của Kawabata thấm nhuần ý thức tha hóa và mất mát, sự tìm kiếm một cái đẹp thuần túy, siêu nhiên, thường gặp ở một phụ nữ hay một người tế nhị nữ tính. Tất cả các tác phẩm tiêu biểu của ông: Vũ nữ ở Idư, Xứ tuyết, Nghìn cánh hạc, Núi rền, Những người đẹp trong giấc điệp... đều miêu tả một tâm hồn cô đơn đi tìm yên ủi trong cái đẹp và cái tốt bẩm sinh của một phụ nữ trẻ, mặc dù đề tài câu chuyện có thể khác nhau. Ông được giải Nobel vì “nghệ thuật viết văn tuyệt vời và tình cảm lớn lao thể hiện được bản chất của cách tư duy Nhật” (đánh giá của Ban Giám khảo).

Tác phẩm của Kawabata được thế giới biết nhiều nhất là Xứ tuyết (Yukiguni).

Hai trăm trang giấy, mười ba năm lao động nghệ thuật: Xứ tuyết đã mang lại cho Kawabata giải thưởng văn học Nobel năm 1968. Từ 1935, ông đã đăng trong mấy tạp chí nhiều đoạn thơ văn xuôi, sau được tập hợp xuất bản thành cuốn tiểu thuyết ấy (1937). Ông vẫn tiếp tục sửa chữa, bổ sung. Tác phẩm định hình cuối cùng ra năm 1948.

Gọi Xứ tuyết là tiểu thuyết cũng được, là thơ cũng được. Thậm chí là bi kịch cũng được, vì có thể coi Xứ tuyết cùng Nghìn cánh hạc Núi rền là một bộ ba bi kịch về tình cảm con người. Nói cho đúng hơn, Xứ tuyết là một bản nhạc giao hưởng với những chủ đề, biến tấu và tiết tấu của nó, với cấu trúc và văn phong Á đông, rất Nhật Bản, thiên về gợi cảm hơn tả cảnh, tả nội tâm là chính, miêu tả bên ngoài có khi rất tỉ mỉ nhưng là ngôn ngữ biểu tượng, ý tại ngôn ngoại. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là một chuỗi tín hiệu, những hình ảnh nối tiếp nhau như những trường đoạn của điện ảnh. Nhưng tất cả sẽ rời rạc và vô duyên nếu không có sợi chỉ đỏ là sự nhạy cảm của nghệ sĩ phản ánh một hiện thực tâm lý bằng cách gợi lại những cảm xúc mong manh.

Những chủ đề của bản giao hưởng Xứ tuyết đan lồng vào nhau: tình yêu, ý nghĩa cuộc sống và cái chết, quan hệ giữa thể xác và tâm hồn, con người và thiên nhiên, cái đẹp và cái thiện. Dục tình với ý nghĩa thẩm mỹ và nghệ thuật có thể giải thoát được tâm hồn, đưa đến hạnh phúc toàn vẹn, thanh thản được không? Hay đó là bí quyết của tình yêu thầm lặng, hy sinh của một tâm hồn cao cả? Ở trong khung cảnh núi tuyết trắng xóa, khí lạnh lọc tâm hồn, người ta có thể tìm lại được cái trong trắng trinh bạch trong tâm không?

Câu chuyện Xứ tuyết khá đơn giản. Shimamura đi nghỉ ở xứ tuyết tại cực Bắc nước Nhật. Anh đến đó sống một tình yêu mãnh liệt và mong tìm lại sự trinh bạch của tâm hồn ở một vùng tuyết trắng im lặng và cô đơn, xa đời sống gia đình và xã hội tầm thường của Thủ đô Tokyo. Thuộc tầng lớp trí thức Nhật những năm 30, anh có của, có lòng, tôn thờ cái đẹp, nhưng chưa tìm ra được bản sắc cái “tôi” của mình, nên sống hững hờ. Kỹ nữ (geisha) Komako, con người xinh đẹp, tài hoa và tự trọng, yêu anh một cách say mê, hiến cho anh những rung cảm của tấm thân ngọc ngà; cô không cần biết đến ngày mai và trái với anh, cô tìm thấy trong mối tình tạm bợ ấy một cái gì tuyệt đối. Nhưng cùng một lúc, cũng ở xứ tuyết, Shimamura lại nuôi một mối tình lý tưởng: anh không bao giờ thổ lộ ra, nhưng anh luôn bị ám ảnh bởi đôi mắt sâu thẳm và tiếng nói tuyệt đẹp của Yoko, tượng trưng cho tinh thần xả kỷ. Hai mối tình: một nặng về thể xác, một nặng về tâm hồn. Kết luận câu chuyện bi thảm: ở một đám cháy nhà kho trong làng, Yoko cứu các trẻ em và hy sinh trước mắt Shimamura và Komako. Sự kiện này cắt đứt mối tình của hai người. Shimamura sẽ không trở lại xứ tuyết lần thứ tư nữa, vì một trong hai mối tình bổ sung nhau đã chết.

Sau đây là một số suy nghĩ của Kawabata:

+ Anh muốn dứt bỏ hai bàn tay. Chấm dứt xúc giác. Trong một trạng thái tâm hồn như vậy, gặp em sẽ là điều không chịu nổi. Vì chỉ một hơi thở của anh cũng đủ chắc chắn dập tắt ngọn lửa đang thiêu đốt lòng anh.

+ Tôi có cảm tưởng khi một con người bị một sự kiện kinh khủng đánh gục, thì chỉ còn có cách tiếp tục thẳng người hăng hái mà đi con đường của mình, dù tóc rối tung.

+ Hàng nghìn sự hư đốn ẩn giấu trong những bóng tối của thế giới này.

+ Đối với người già là cái chết, đối với người trẻ là tình yêu, cái chết thì chỉ có một lần, đối với tình yêu thì tôi chẳng biết là bao nhiêu lần.

+ Thà xúc động và buồn rầu về cuộc sống của người này còn hơn là xúc động và buồn rầu về cái chết của y.

+ Hoa có cuộc sống. Cuộc sống ngắn ngủi, mà cuộc sống hiển nhiên. Những năm tháng trở lại và các nụ hoa lại nở - như thiên nhiên sống.

+ Cái bao la và sâu sắc của những khát vọng, thì cuối cùng ông đã từng bao giờ ước lượng trong 67 năm cuộc đời của mình chưa?

+ Cái tục lệ người sống gọi hồn người chết quả thật là đáng ngán, đáng ngán nhất là sự tin người chết vẫn còn tồn tại trong thế giới bên kia dưới hình thức của mình trên thế gian.

+ Chết, có nghĩa là gạt bỏ vĩnh viễn mọi đồng cảm của tất cả mọi người.

+ Vậy mà còn điều gì kinh khủng hơn là đối với một người già sẵn sàng nằm cả một đêm bên một cô gái đã bị uống thuốc ngủ để ngủ trong suốt thời gian ấy và không mở mắt.

Hữu Ngọc

loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Cảo thơm lần giở: Kawabata

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT