“Mới thấy đó mà đã chết đó” là cách nói rất dân dã trong
cộng đồng để diễn tả sự nhanh chóng, đột ngột cướp đi sinh mạng của không ít
người trong thời gian gần đây.
Hiện nay đột tử xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều và
xảy ra cả ở nhóm người trẻ tuổi.
Đột tử là bệnh lý tim mạch
Một trong những nguyên nhân thường gây ra đột tử là do bệnh
lý tim mạch. Khi đột tử xảy ra, thường không có các dấu hiệu báo trước mà rất
thường gặp ở những người có bệnh lý về tim mạch từ trước đó như nhồi máu cơ
tim, rối loạn nhịp tim như nhịp nhanh thất hay rung thất. Sự khởi phát của nhịp
nhanh thất hoặc rung thất nhanh chóng làm tim ngừng đập và thường sẽ đưa đến tử
vong nếu không được cấp cứu kịp thời.
Những biểu hiện thường gặp của cơn nhồi máu cơ tim điển hình
là đau ngực trái dữ dội, xảy ra khi người bệnh gắng sức, cơn đau kéo dài khoảng
15 - 30 phút. Khởi đầu đau ở ngực trái sau đó cơn đau lan lên cổ, hàm dưới bên
trái, mặt trong cánh tay trái, đôi khi đau ngay thượng vị làm cho người bệnh dễ
nhầm tưởng với bệnh đau dạ dày. Cơn đau tăng lên khi vận động và giảm đi nếu
nghỉ ngơi hay dùng thuốc nitroglycerin ngậm dưới lưỡi. Đôi khi cơn đau không rõ
ràng, nhất là ở người có bệnh đái tháo đường, người lớn tuổi, Khi đó, người
bệnh chỉ cảm nhận rằng bị ngộp thở, nặng
ngực. Triệu chứng đi kèm thường là vã mồ hôi, khó thở, mệt nhiều, buồn nôn,
nôn, đánh trống ngực.
Xơ vữa mạch máu dễ dẫn đến đột
tử
Hầu hết người bệnh đột tử do tim là trước đó đã xảy ra nhồi
máu cơ tim trong khoảng thời gian từ vài tuần đến vài tháng, đôi khi là vài năm
mà người bệnh không biết, hay đã biết và mặc dù đã được điều trị kịp thời nhưng
đột tử vẫn có thể xảy ra.
Nếu tổn thương ít thì cơ tim có thể lành sau một thời gian
nhưng chúng để lại một vết sẹo vĩnh viễn, vết sẹo này của tim có thể trở nên
không ổn định “điện” và sự không ổn định “điện” này có thể gây nên rối loạn
nhịp tim và đe dọa tính mạng người bệnh. Những rối loạn nhịp này thường xảy ra
đột ngột, không hề có triệu chứng báo trước và người bệnh có thể bị ngưng tim
đột ngột mặc dù đã được điều trị đúng theo hướng dẫn của bác sĩ.
Nhìn chung nguy cơ dài hạn của tử vong sau bệnh lý tim mạch
trên một người đã được điều trị ổn định là khoảng 1 - 2% và nguy cơ cao nhất
khoảng 20% xảy ra ở những người đã từng bị ngưng tim nhưng đã được cứu sống.
Nguy cơ tương đối cao ở những người bệnh đã bị nhồi máu cơ
tim diện rộng và để lại sẹo lớn trên cơ tim. Một trong những phương pháp dùng
để đánh giá sẹo tốt hay không là siêu âm, trong đó khảo sát xem chức năng tống
máu của tim hay còn được gọi là phân suất tống máu có bình thường không (bình
thường là từ 50% trở lên). Nếu sẹo càng lớn thì phân suất tống máu càng kém,
nếu trên 40% thì nguy cơ tử vong ít hơn, nếu dưới 30% nguy cơ cao hơn nhiều.
Nguy cơ đột tử sau bệnh lý tim mạch có thể được làm giảm
đáng kể nhờ tuân thủ sự chỉ dẫn và phương pháp điều trị của bác sĩ là dùng
thuốc điều trị ức chế bêta và ức chế men chuyển, cũng như thuốc statin. Các
thuốc trên làm giảm nguy cơ đột tử nhờ làm giảm cơ hội phát triển suy tim và
đau tim tái phát. Nếu người bệnh thuộc diện có nguy cơ cao mặc dù đã được điều
trị bằng thuốc có thể được xem xét để cấy một máy phá rung.
Thay đổi lối sống, giảm các yếu tố nguy cơ
Ngoài những yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành mà ta
không thay đổi được như tuổi, giới tính, tiền sử gia đình thì cần phải thay đổi những yếu tố nguy cơ để đề phòng đột
quỵ như:
- Hút thuốc lá: thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch
vành tăng lên gấp hai lần người không hút.
- Ít vận động: những người không luyện tập thể dục thường
xuyên sẽ có tuổi thọ thấp hơn những người luyện tập thường xuyên mỗi ngày trên
30 phút.
- Tăng huyết áp: ở người bệnh tăng huyết áp, thành mạch máu
thường bị xơ vữa nên rất kém đàn hồi. Do đó để tống máu đi, tim phải tốn công
nhiều hơn. Hậu quả là cơ tim sẽ dày lên và cứng hơn, sự cố gắng liên tục sẽ làm
tim suy yếu. Do áp lực tác động lên thành động mạch tăng cùng với sự xơ vữa,
mạch máu dễ bị vỡ làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim.
- Đái tháo đường: theo một nghiên cứu, hơn 65% số người đái
tháo đường bị tử vong vì bệnh tim mạch.
- Béo phì: người béo phì dễ bị tăng cholesterol máu, tăng
huyết áp và là nguy cơ của bệnh tim mạch.
- Rối loạn mỡ trong máu: ở người trưởng thành, nếu nồng độ
cholesterol trong máu tăng cao quá 10% giá trị bình thường thì nguy cơ bị các
biến chứng tim mạch sẽ tăng thêm 30%.
- Stress: có tác dụng làm tăng nhịp tim và tăng huyết áp.
Người bệnh tim mà liên tục chịu ảnh hưởng của stress thì tần số cơn đau thắt
ngực tăng lên.
- Uống quá nhiều rượu bia: làm tăng huyết áp, tăng
triglicerid máu, gây nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
BS.CKI. HỒ VĂN CƯNG