Tổng biên tập
Thầy thuốc ưu tú
BS.Trần Sĩ Tuấn
Đường dây nóng 24/24h
0906277704
Nhận các thông tin phản ánh
bức xúc về KT-XH
Thứ ba, 2/3/2010, 15:7 (GMT+7)
Nhà thuốc bệnh viện
Quá khứ và hiện tại? (Kỳ 1)

Kỳ I: Lịch sử hình thành, lợi ích thu được

Nhà thuốc bệnh viện có từ nhiều năm nay kể từ khi chưa chính thức đến khi được chính thức hóa? Lợi ích thu được nhiều, nhưng sai sót cũng không ít. Vai trò của nhà thuốc bệnh viện hiện nay  cũng là điều đáng bàn.

Lịch sử hình thành

Từ 1975- 1986 và kéo dài thêm vài năm sau, việc  cung ứng thuốc chung cũng như riêng cho người nằm viện có nhiều khó khăn do nhu cầu khám chữa bệnh sau chiến tranh tăng lên nhiều, sản xuất thuốc nội chưa phát triển. Chỉ có công ty nhà nước mới được nhập thuốc ngoại, nguồn từ hệ thống xã hội chủ nghĩa có danh mục không phong phú, số lượng sụt giảm. Kinh phí bệnh viện (BV) eo hẹp nhưng không được phép thu của người bệnh. BV không đủ tiền trang trải các khoản chi thông thường, không thể có tiền cấp thuốc miễn phí cho cán bộ công nhân viên (CBCNV), cho mọi người dân như  trước năm 1975.

Cuối những năm 80 đầu 90, các BV được phép thu một phần viên phí, nhưng danh mục hạn chế, mức thu thấp không cải thiện được bao nhiêu tình hình. Giữa những năm 90 mới có BHYT cho đối tượng bắt buộc, mức đóng góp  trên lương thấp, danh mục thuốc  được quỹ BHYT thanh toán hạn chế, người có thẻ có lúc vẫn bỏ thêm tiền mua thuốc.

Trước năm 1986, tuy Bộ Y tế chưa cho phép tư nhân nhập thuốc nước ngoài, mở phòng khám tư, mở nhà thuốc tư, nhưng  thực tế vẫn có nhiều người buôn lậu thuốc ngoại qua cửa khẩu hay dưới dạng  quà biếu, có cơ sở  khám bệnh chui, bán thuốc chui (!).

Từ đó, một số nơi xuất hiện các tiêu cực: BV chỉ ra y lệnh, người bệnh tự lo lấy thuốc. Thầy thuốc giới thiệu nơi bán chui, y tá bán thẳng thuốc cho người bệnh, buộc người bệnh chỉ dùng thuốc do họ giới thiệu, bán.  Điều này gây  khó khăn cho công tác quản lý, giảm chất lượng điều trị,  mất an toàn trong dùng thuốc, thiệt hại cho người bệnh, phương hại đến uy tín BV.

Trong bối cảnh ấy, với thiện chí giúp đỡ người bệnh, chống tiêu cực nội bộ, một số BV lập ra bộ phận, danh tính không chính thức, gọi là "nơi nhượng thuốc cho người bệnh", không tính lãi, hay tính rất ít, chỉ đủ bù đắp một phần chi phí chạy hàng, bảo quản, bồi dưỡng cho khoa dược (do cử người làm thêm chức năng này).

Những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, Bộ Y tế hoàn thiện dần văn bản cho phép mở nhà thuốc tư (NTT). Một thời kỳ khá dài có qui định: Dược sĩ (DS) đương chức chỉ được đứng tên chịu trách mở NTT ngoài giờ, trừ  một số DS  giữ  các chức vụ quản lý. Do vậy, một số BV cho đấu thầu phần đất nhà trong khuôn viên BV, để công ty dược nhà nước (CTDNN) mở quầy hay cá nhân mở NTT, trong khi chính BV vẫn duy trì "nơi nhượng thuốc cho người bệnh". Thực tế nơi này hoạt động không khác gì một nhà thuốc,  có nơi không còn giữ đúng mục tiêu ban đầu. Tuy không hợp pháp nhưng có phần hợp lý, nên nhiều sở y tế vẫn không cấm, chỉ khi nào có thiếu sót mới nhắc nhở. Mãi cho đến năm 1999, dựa trên Pháp lệnh hành nghề Y Dược tư nhân (1993) Nghị định 06 NĐCP (năm 1994) và Thông tư hướng dẫn  01-98 TT-BYT ( 21/10/98),  Bộ Y tế mới ra Quyết định 3016 QĐ-BYT  "Qui định về tổ chức hoạt động của nhà thuốc Bệnh viện (NTBV).  Văn bản đó qui định cụ thể quyền, tiêu chuẩn điều kiện, cách thức hoạt động (kể cả vốn liếng, giá thuốc). NTBV tuy BV lập ra, dùng cơ sở vật chất, người của BV hoạt động, nhưng vẫn không phải là đơn vị kinh doanh  của nhà nước mà là của tập thể CBCNV. Sau này, Bộ Y tế có Quyết định 24/2008 QĐ-BYT qui định về tổ chức hoạt động của NTBV có nội dung cơ bản tương tự  như 3016 QĐ-BYT.

Nhà thuốc bệnh viện vẫn được bệnh nhân tin tưởng.

NTBV đã làm được những gì?

Dù khi hoạt động không có danh tính chính thức hay được chính thức hóa, NTBV làm được một số việc đáng ghi nhận:

- Giúp  người bệnh có thuốc dùng, đặc biệt là những thuốc hiếm quí, thuốc chuyên khoa khó tìm, đỡ mất thời gian, công sức từ mua thuốc.

- Giữ  cho giá cả thuốc ở BV hợp lý, ổn định. Lúc đầu là cạnh tranh  với người bán thuốc chui, với chính y tá bán thuốc, về sau là cạnh tranh với các quầy thuốc của công ty nhà nước, NTT trong khuôn viên bệnh viện, chống lại sự ép giá quá đáng của họ.

- Chống lại sự tiêu cực trong nội bộ (như nói trên) góp phần nâng cao trách nhiệm, y đức, lập  lại lề lối làm việc qui củ, củng cố lại khâu quản lý, nâng cao chất lượng điều trị, đảm bảo sự an toàn trong dùng thuốc, tránh thiệt hại cho người bệnh nâng uy tín của BV.

- Những điều này làm nền cho BV làm tốt một số qui chế quản lý, qui chế chuyên môn mà trước đó do sự lộn xộn trong cung ứng thuốc không có cách nào thực hiện được như: thực hiện tốt Danh mục thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc dùng trong các cơ sở khám chữa bệnh, qui chế kê đơn (giảm bớt việc kê đơn không lành mạnh), quy chế quản lý thuốc độc, hướng thần, gây nghiện.

- Lợi ích trong kinh doanh tuy không lớn nhưng cũng góp phần cải thiện đời sống CBCNV.

Những điều chưa làm được của NTBV        

Với loại NTBV giao cho Công ty Dược (CTDNN) mở: Do CTDNN đấu thầu khuôn viên nhà của BV với giá cao (giá tính cả vị trí đắc địa ) nên NTBV  móc nối  với thầy thuốc (kê đơn không lành mạnh) bán với giá cao, nhằm  trả đủ tiền đấu thầu, có lãi. Khi CTDNN chuyển sang chế độ khoán trắng cho mậu dịch viên, đặc biệt là khi chuyển sang cổ phần hóa thì các mậu dịch viên càng sa vào các sai phạm này. Mâu thuẫn giữa BV và CTDNN xung quanh việc tăng giá đấu thầu theo từng thời kỳ và việc quản lý thuốc, giá thuốc xuất hiện, có khi cơ quan quản lý phải đứng ra dàn xếp.

Với loại NTBV do chính BV lập ra: BV đứng ra tổ chức hay cho một nhóm CBCNV đấu thầu  tổ chức ra NTBV. Vì quyền lợi của  tập thể hay nhóm  NTBV này cũng thực hiện việc móc nối với  thầy thuốc, bán giá thuốc cao hơn, tuy rằng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của BV, họ làm đúng với Quyết định 3016 QĐ-BYT, 24/2008 QĐ-BYT hơn,  những vi phạm tuy có nhưng chỉ  ở mức độ nhất định.

DS. Hà Thủy Phước